Biên Bản Nhân Chứng Thứ Ba Về Cái Chết của Thầy Giảng Anrê Phú Yên
2009-10-08 08:33:52
Biên Bản Nhân Chứng Thứ Ba Về Cái Chết của Thầy Giảng Anrê Phú Yên
Thợ cưa và nhà tranh. Nguồn Internet : Indochine.
Biên bản số 3 của ông Antonio Pecanha de Mendonca, 40 tuổi, cho chúng ta nhiều chi tiết mới. Qua lời khai và tuổi tác, chúng ta thấy ông qua lại Đàng Trong rất nhiều lần, vì biết rõ thầy Anrê với những công tác:thầy giảng, giúp việc trong nhà, giúp đỡ giáo dân. Tất cả những chi tiết bắt giữ, xử án, hành quyết trùng khớp với những nhân chứng khác.
Riêng biên bản nầy cho biết thêm những chi tiết mới.
Chi tiết thứ nhất là nơi giam cầm suốt thời gian 24 tiếng đồng hồ không phải là một ngục tù mà là một trại cưa. Một trại cưa ván Miền Trung vào tháng 7, tháng hè nóng nhất, không thể kín mít như ngục tù, trái lại phải thông thoáng như những hình ảnh xưa và thực tế hiện nay. Ta có thể tưởng tượng, Ông Nghè Bộ cũng quá bất ngờ về những chuyện vừa xảy ra ngoài ý muốn của ông. Ông muốn bắt thầy Y Nhã chứ đâu có nhằm đến cậu bé Anrê. Y Nhã có thời làm quan, ăn nói lưu loát, có lẽ đã công kích lối sống loạn luân của Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lanvà chị dâu Tống Thị (vợ của hoàng tử quá cố Nguyễn Phúc Kỳ, anh ông)nên mới là mục tiêu mà Antonio lưu ý “ý chỉ Vua Đàng Trong”, hiểu ngầm do xúi dục của Tống Thị và tay sai Ông Nghè Bộ. Hai nhân vật một già, một trẻ có gì nguy hiểm mà phải tống ngục tối, nên tạm thời cho qua đêm trong một trại cưa với gông trên cổ, chi tiết “gông tre”, dành cho người không nguy hiểm lắm “...thầy bị quan bắt giam với một cái gông trên lưng (trên cổ ?)- nơi giam giữlà nơi có một nhà tranh hiện diện nhiều thợ mộc và cưa (ván).”Chúng ta không nên cường điệu quá để biến thành nhà lao, ngục tù.
Chi tiết thứ hai cần lưu ý là chiếc bánh Castela, bánh xốp của người Bồ Đào Nhamà cha Alexandre de Rhodes trao cho “và thầy đã ăn một mẫu bánh castela mà cha Alexandre đã trao cho thầy lúc đó”.
Chi tiết thứ ba là Ong Nghè Bộ lưu ý cha Alexandre de Rhodes là chỉ được “đến và đi với người Bồ Đào Nha…” Ý ông muốn ngài không được truyền giáo mà chỉ là tuyên úy tàu buôn.
Chi tiết thứ tư là quan ra lệnh đốt hết sách vở, bút tích của ông An rê Già (Anrê Sơn ?). Một chi tiết rất quan trọng. Như các bản tường trình cho biết , vào thời đó giáo hội non trẻ Đàng Trong đã có sách giáo lý, nhiều kinh sách, thơ ca, tuồng kịch... bằng chữ Nôm, chữ Hán, kể cả chữ quốc ngữ viết theo mẫu tự La Tinh ”…nhưng một cây thánh giá bằng gỗ và nhiều giấy tờ khác cùng với những cuốn vở viết tay ghi những lời cầu nguyện và lễ bái tìm thấy trong nhà ông Anrê Già, người được tha mạng thì quan ra lệnh đốt ở một nơi xa, bới vì ông nói rằng đó là lệnh của nhà vua...” Lại thêm một Tần Thủy Hoàng mới tại Việt Nam. Tại Dinh Chàm năm 1621, cha Francisco di Pina đã sáng tạo ra chữ Quốc ngữ . Chắc chắn trong những văn bản bị đốt ngày 26 tháng 7 năm 1644, có rất nhiều tài liệu viết tay của các linh mục phục vụ tại Dinh Chàm như cha Pina. Ngoài ra còn bao nhiêu sáng tác khác của các Ki tô hữu trí thức như ông Anrê Già. Sau nầy con trai ông là Lữ Y Đoán (Đương?) đã trở thành thầy giảng và làm linh mục khi về già. Ngày nay trên các phương tiện truyền thông, ông được ca tụng như người đã dịch Ngũ Kinh Kinh Thánh ra văn vần và cố gắng Việt hóa Thánh kinh.Phải chăng Sấm Truyền ca với 4000 câu thơ lục bát còn sót lại hiện nay là công trình không chỉ của ông mà còn có sự góp mặt của thân phụ ông : ông Anrê Già? Tiếc ơi là tiếc!
Xin mời đọc biên bản của nhân chứng Antonio Pecanha.
NHÂN CHỨNG THỨ BA:Antonio Pecanha de Mendonca
Vào cùng một ngày, tháng và năm đã được nêu trên, trong cùng một nơi đã chỉ định trong nhiệm sở của Cha Tổng Quyền Manoel Fernandes, thì Antonio Pecanha de Mendonca xuất hiện, anh là một trong số những nhân chứng được thầy Manoel de Figueiredo chỉ định; anh khẳng định mình sinh quán tại Lisbonne, giáo xứ thánh Catarina núi Sinai, con trai của Francisco Borges và bà Isabel de Mendonca, 40 tuổi, nhân chứng được triệu đến bằng thư mời bởi thư tín viên Antonio Rangel để khai về vụ án này; cha Tổng Quyền đã cho nhân chứng đặt tay phải lên Sách Phúc Âm mà thề; và anh đã thề nói sự thật về những gì anh biết và sẽ được chất vấn. Trả lời câu hỏi năm này anh có xưng tội không và mấy lần, anh trả lời rằng cách đây bốn hay năm tháng tại Đàng Trong, anh đã xưng tội để mừng lễ Phục Sinh với cha Alexandre Dòng Tên và đã lãnh nhận Thánh Thể từ tay ngài; và với lời cảnh báo phải nói sự thật, vì niềm tin vào lời thề anh đã tuyên thệ, và phải cân nhắc kỹ lưỡng những gì anh sẽ nói và sẽ khai ra bởi vì việc đặt tay lên Phúc Âm mà thề là một điều vô cùng hệ trọng. Anh trả lời rằng anh sẽ nói sự thật và anh vẫn biết rõ tính cách hệ trọng của việc đặt tay lên Phúc Âm mà thề. Và anh cho biết rằng, nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa, anh chưa bao giờ bị dứt phép thông công.
Câu hỏi thứ nhất:
Nhân chứng trả lời là đã tận mắt nhìn thấy và biết rất rõ thầy Anrê, và người ta bảo cha mẹ thầy là người Kitô hữu, sinh quán tại Đàng Trong, tỉnh Ranran; thầy làm người phục vụ cha Alexandre Rhodes như một thầy giảng và như một người phục vụ trong nhà, và thầy giúp đỡ ngài trong chăm sóc dân Kitô giáo mà ngài có trách nhiệm ở đó. Và chính nhân chứng đã nhìn thấy và đã là nhân chứng vụ bắt giữ và cái chết của thầy Anrê bởi vì nhân chứng có mặt, và là một trong số những người Bồ cũng có mặt tại nhà giam, ở đó nhân chứng đồng hành với thầy Anrê, và tại nơi nhà quan người kết án tử hình thầy Anrê, nhân chứng đã can thiệp để cứu mạng sống thầy, và những tranh ảnh tôn giáo mà họ đã lấy được trong nhà Cha, vì năm này nhân chứng đã đi đến thăm thành phố ở Đàng Trong để giao dịch và thương mại.
Câu hỏi thứ hai:
Nhân chứng trả lời rằng mình có biết vì đã nhìn thấy thầy Anrê bị giải đi tống giam và bị trói bằng dây mây, vì thầy là Kitô hữu và tuyên xưng đạo Chúa Kitô trước mặt quan Ông Nghè Bộ, thầy đã bị trao khảo về đạo mà thầy vẫn tuyên xưng; và thầy đã can đảm tuyên xưng đạo, khi nhiều lần lặp lại rằng thầy là Kitô hữu, và thầy hoàn toàn sẵn sàng hiến mạng sống vì đạo Chúa Kitô; vì lý do đó mà thầy bị quan bắt tống giam trong ngục với một cái gông trên lưng – ngục thất là một nơi và một túp lều tranh ở đó có nhiều thợ mộc và người cưa ván, gông là một loại dụng cụ được làm bằng hai đoạn tre dài khoảng một thước tay (“coudée”) rưỡi, được khép lại ở giữa bằng hai thanh gỗ nhỏ, để những thanh tre đó đè trên đôi vai. thầy cứ ở trong tư thế đó trong suốt 24 giờ trong ngục thất đó, cùng với một Kitô hữu khác cũng tên Anrê, già hơn, và người này bị bắt vì cùng một lý do, nhưng nhờ sự can thiệp của những người Bồ ông đã được thả, người ta tha mạng cho ông. Và chính nhân chứng đã nghe nói rằng khi họ đến bắt thầy Anrê, họ cũng đã mang trát bắt những thầy giảng khác mà họ sẽ gặp.
Thợ mộc, thợ chạm, thợ cưa đầu thế kỷ 20. Nguồn Internet : Indochine.
Câu hỏi thứ ba:
Nhân chứng trả lời rằng sau khi thầy Anrê bị bắt – ngày 25 tháng 7 – ngày hôm sau quan lớn, chức tương đương với quan thống đốc ngân khố, đã công bố bản án tử hình, vì đó là ý chỉ của vua Đàng Trong, cũng như chính vị quan lớn đó tiết lộ với những người Bồ. Chính nhân chứng đã có mặt tại chỗ nơi thầy Anrê bị giam gần một ngày cho đến khi người ta hành quyết thầy, và nhân chứng thấy rằng thầy rất vui vẻ và khi hay tin do một tên lính hay một tay sai của một viên quan khác cấp dưới - có lẽ ông này sẽ là người thi hành bản án tử hình - cho hay rằng người ta ra lệnh xử tử thầy, vô cùng hài lòng và vui vẻ thầy đã chấp nhận bản án đó; và thầy đã ăn một mẩu bánh castela (hoa lang, bông lan) mà cha Alexandre đã trao cho thầy vào lúc đó, bởi vẫn có cha và những người Bồ khác hiện diện với thầy; và cuối cùng buổi chiều thầy Anrê được viên quan có nhiệm vụ hành quyết giải đi, cùng đi với rất nhiều lính tráng đến nơi xử tử, đó là một chỗ cách xa nơi dân cư khoảng một phần ba dặm; ở đó người ta trải chiếu xuống đất cho thầy, để thầy được chết bằng những mũi giáo. Và khi đến nơi, thầy Anrê qùi gối xuống; tay vẫn bị trói như khi đi đường, và vai mang gông; rồi quân hầu cởi gông ra và thầy ở đó chỉ có tay bị trói lại; quân lính bao vây chung quanh thầy làm thành một vòng tròn để thầy ở giữa, và một trong số những lý hình lấy cây fatamono (một nửa giống như ngọn giáo) có đầu bằng sắt dài ba gang tay, và trước hết nó dùng hết sức bình sinh dùng cán giáo đó nện cho thầy một cú hết sức mạnh, rồi dùng mũi giáo đâm thầy một vết thương sâu bên sườn trái, làm toạc hết cả cạnh sườn, rồi đâm tiếp một nhát nữa ngay sau đó, cú đâm này làm thầy ngã gục xuống, lúc đó có một lý hình hay một tên lính khác tiến đến, cầm mã tấu, cắt đứt hoàn toàn cổ họng, trong khi đó thầy Anrê rất vững vàng và đầy kiên định, thầy luôn kêu Danh Thánh Giêsu và Maria, mãi đến khi người ta cắt đứt hẳn đầu thầy. Và thầy luôn nói rằng thầy không chết vì thầy là một kẻ trộm, cũng không phải vì đã phạm một tội ác nào, những chỉ vì thầy là người Kitô hữu; bằng ngôn ngữ Đàng Trong thầy đã luôn khích lệ những người Kitô hữu hãy vững vàng, và đừng run sợ vì cái chết của thầy. Tất cả những lời này, nhân chứng đã nghe và những người hiện diện đã giải thích cho nhân chứng biết.
Câu hỏi thứ tư:
Nhân chứng trả lời rằng sáu hay bảy người Bồ của thành phố này đã nhân chứng cho cái chết này, họ đã hiện diện và đã nhìn thấy tất cả những gì đã diễn ra, trong đó có thuyền trưởng João de Rezende, Francisco Azevedo, Agostinho da Silva, và những người khác; một người đang sống ở bên đó là Horacio Massa, và cha Alexandre Rhodes, và nhiều người Kitô hữu bản xứ đã hiện diện tại chỗ; và tất cả đã lấy máu và một phần những thánh tích của thầy Anrê, và coi đó như những thánh tích của vị anh hùng tử đạo. Và thi thể của thầy được quàn trong một chiếc áo dài bằng lụa mà một số người Kitô hữu đã hiến tặng thầy, và được trao cho cha Alexandre Rhodes, ngài ra lệnh đưa thầy đi trong đêm về Hội An; và từ đó thầy được đặt trong một cỗ quan và được giao cho thuyền trưởng João de Rezende de Fieueiroa. Người này, khi cập bến thành phố này, đã kể lại hết tất cả những gì đã xảy ra cho cha Giám đốc Dòng Tên, tức người đảm nhiệm việc tiếp rước thi thể bằng đoàn rước đám tang mà ngài tổ chức. Và dường như, những công dân của thành phố này và người ta có thể thấy một phần dân chúng, đã chạy đến nhập vào đoàn rước và đoàn người tiếp đón: tất cả đều tung hô lời ngợi khen Thiên Chúa đã ban cho thành phố này vinh dự đón tiếp thi thể của vị anh hùng đã hiến mạng sống mình vì đức tin vào Chúa Kitô.
Câu hỏi thứ năm:
Nhân chứng trả lời rằng sự việc đã thực sự xảy ra như vậy, và chính viên quan đó đã tiết lộ và giải thích trước mặt nhân chứng và những người Bồ đang hiện diện như thế; còn về các ảnh tượng và thánh giá mà quân lính đã lấy khi họ bắt thầy Anrê trong nhà cha Alexandre Rhodes, thì nhờ sự can thiệp và cầu xin của những người Bồ, viên quan này đã trả lại cho cha Alexandre; nhưng một cây thánh giá bằng gỗ và nhiều giấy tờ khác cùng với những cuốn vở viết tay ghi những lời cầu nguyện và lễ bái được tìm thấy trong nhà của Anrê Cả, người được tha mạng, thì quan ra lệnh đốt đi ở một nơi xa, bởi vì ông nói rằng đó là lệnh của nhà vua, người không muốn trong đất nước của mình có nhiều người Kitô hữu; và ông lưu ý cha Alexandre Rhodes Dòng Tên, ngài đang hiện diện ở đó rằng, ngài phải ra khỏi đất nước này cùng với những người Bồ, ngài chỉ có thể đến và trở về cùng với họ, như chính họ vậy, chứ không được ở lại đó cách cố định.
Câu hỏi thứ bảy:
Nhân chứng trả lời rằng cái chết và việc tử đạo này là do thầy Anrê là người Kitô hữu và do lòng thù hằn đối với đức tin, chứ không phải do một tội ác nào mà thầy Anrê đã phạm.
Câu hỏi thứ tám:
Nhân chứng trả lời rằng thầy Anrê được coi như vị tử đạo và được tôn kính như thế bởi những Kitô hữu ở Đàng Trong cũng như những người Bồ trở về thành phố này và bởi hầu hết mọi người; và những thánh tích được tôn kính và truy tìm; thi thể thầy được đặt trong Học viện của các Cha Dòng Tên, và đã được giao cho cha giám đốc Trường này; nhưng nhân chứng không biết đến nay Thiên Chúa đã làm phép lạ nào chưa do sự bầu cử của thầy.
Sau khi chứng từ được đọc lại cho nhân chứng Anrê Pecanha, anh ta tuyên bố rằng chứng từ này được viết ra đúng sự thật, theo những gì mà chính nhân chứng đã nhìn thấy và nghe nói, và anh khẳng định chứng từ này là của mình và chấp nhận, mà không có gì khác để thêm vào cũng như phải bỏ bớt. Và anh đã ký tên của mình cùng với Cha Tổng Quyền, và tôi, cha Antonio da Silva, thư ký tư pháp của toà giám mục này và là công chứng viên chính của vụ án này, người ghi văn bản này. Ký tên Antonio Pecanha de Mendonca. Manoel Fernandes, thuyền trưởng. Cha Antonio da Silva.