GIÁO XỨ HỘI AN, DI TÍCH LỊCH SỬ CẤP TỈNH, THÀNH PHỐ
Ngày áp Đại lễ Giáng Sinh 2008, linh mục quản xứ Hội An và đại diện giáo dân tham dự cuộc gặp gở thân mật với các vị đại diện Uûy Ban Nhân Dân phường Cẩm Phô và Trung tâm Bảo tồn Di tích Thành phố Hội An Trong cuộc gặp gở nầy , linh mục Quản xứ Antôn Nguyễn Trường Thăng, đại diện Giáo xứ Hội An đón nhận Bảng xếp hạng Di tích cấp tỉnh , thành phố của Uûy Ban nhân dân tỉnh Quảng Nam. Nộâi dung như sau : Nhà thờ Thiên Chúa giáo và khu mộ các giáo sĩ phương Tây , thuộc khối phố 6, phường Cẩm Phô, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam được nhận danh hiệu Di tích Lịch sử và Văn hóa cấp tỉnh , thành phố. Quyết định trên đã được ông Chủ tịch Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Nam Nguyễn Đức Hải ký ngày 7 tháng 4 năm 2008. Số danh mục : 253.
Nhìn lại quá khứ, mặc dầu Giáo hội công giáo có mặt tại Quảng nam, Đà Nẵng từ thế kỷ 16, trải qua bao biến cố, đến nay, số giáo dân của giáo phận Đà Nẵng chỉ là thiểu số 65.000 người so với dân số trên 2. 300.000 người của thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam.
Tại vùng đất nầy, khi các Chúa Nguyễn muốn “ dung thân vạn đại” đã thực hiện chính sách mở cửa ra nước ngoài. Quả họ đã nhìn xa trông rộng, dân tộc Việt Nam bắt đầu nghĩ đến việc làm giàu một cách khác thay vì chỉ đề cao nông nghiệp “ con trâu cái cày” tại một vùng đất mà thiên tai “nắng hạn , mưa lụt “ đe dọa quanh năm. Chính sách ngoại thương đã thu hút nhiều nhà buôn từ khắp nới trên thế giới đổ về. Trong khi các thương gia tìm mua hoặc bán những sản vật quý. Các nhà thám hiểm tìm hiểu khám phá về vùng đất mới lạ. Các tay phiêu lưu chính trị tìm cách gây ảnh hưởng hoặïc nhòm ngó với ý đồ thực dân. Giáo hội truyền giáo vâng theo lệnh Chúa và lời mời gọi cũng lên đường đem Tin Mừng đức tin đến cho các dân tộc chưa biết Chúa .
Vào thời trung cổ , thương gia A rập đã biết đến vùng đất nầy, trong truyện kể của các thủy thủ và các tay phiêu lưu, họ đặt biệt lưu tâm đến các sản vật nhất là trầm hương của vương quốc Champa. Trong thế kỷ 15 sau khi Vasco de Gama vòng quanh mũi Hảo Vọng, người Bồ Đào Nha với các thuyền buồm trưng cờ Thập Tự Chinh đánh phá các pháo đài và chiếm thương trường của người A Rập Hồi giáo ở vùng vịnh Péc xích và Tây Aán Độ, họ tiến dần về phía đông. Tại đây người Bồ gặp một đế quốc lớn là Trung Quốc, không dễ nuốt, họ liền từ bỏ việc xử dụng vũ lực mà chỉ chú tâm đến thương mại. Họ ký các hiệp ước hòa bình, thuê đất đai, chẳng hạn Ma Cau làm thương điếm . Thuyền Bồ Đào Nha, Trung Hoa, Nhật Bản ...qua lại dập dìu trên con “ đường tơ lụa trên biển” nầy. Giáo sư Pierre – Yves Manguin qua tác phẩm Người Bồ Đào Nha trên duyên hải Việt nam và Chămpa ( Les Portugais sur les cotes du Vietnam et du Champa) đã cung cấp nhiều bản đồ hải trình . Cù lao Chàm, Đại chiêm Hải Khẩu ( Hội An) Cửa Hàn là những địa điểm buộc tàu bè phải dừng lại để tiếp tế nước ngọt, nhiên liệu ( củi đốt), thực phẩm trên các chuyến đi dài ngày từ Malacca đến Nhật Bản và ngược lại. Chính vì thế mà những từ Sài phố ( chợ củi), Sài Giang ( sông chợ củi), gò sài ( gò chất củi) lại trở thành địa danh quan trọng. Vùng đất nầy kéo dài từ Thanh Chiêm đến La Nghi (Hội An) cảng Thanh Hà ngày xưa. Khi thuyền cập bến các linh mục tuyên úy trên các thuyền buồm, giáo dân công giáo thuộc nhiều quốc tịch đã đem lại những thông tin về một tôn giáo ở phương Tây và dân chúng gọi tôn giáo mới nầy là đạo của người Bồ Đào Nha: Hoa Lang đạo.

Hình ảnh : Tàu lớn Bồ Đào Nha cập cảng Nagasaki
Một vài người đã nhập đạo nhờ các cuộc tiếp xúc nầy. Vì vậy Hội An không phải là vùng trắng công giáo trước năm 1615.
Chính cộng đồng công giáo Nhật bản có ảnh hưởng mạnh nhất. Người Nhật Bản, trong số đó có nhiều người công giáo, đến đây buôn bán, định cư, và cưới vợ người Việt. Tình hình cấm đạo tại Nhật Bản càng lúc càng tăng đã đưa thêm nhiều kiều dân Nhật đến Hội An. Cha Đắc Lộ trong cuốn Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài có ghi lại “ Có rất nhiều giáo dân ( Nhật), kể từ năm 1614 bắt đầu có sắc lệnh cấm đạo, đã kéo nhau lũ lượt đi, nhất là vào mùa chay, và cả ngoài mùa chay nữa, mỗi năm ba hay ba bốn lần, để được xưng tội với các cha dòng biết nói tiếng Nhật và rước lễ, và mỗi lần có tới bốn chiếc tàu. Họ tự do đi, lấy cớ buôn bán. Và cứ thế gần mười năm nay, họ tiếp tục và rất được mãn nguyện và yên ủi về thiêng liêng..” ( Xem Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài. Bản dịch Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, Tủ sách Đại kết,TP HCM 1994, tr. 36 tt ) . Mười năm tức là 1624, năm cha Đắùc Lộ đến Đàng Trong.
A. NHỮNG NGÔI NHÀ THỜ CÔNG GIÁO TẠI HỘI AN
Chính cộng đồng Nhật Bản và Bồ Đào Nha đã xây dựng những nhà thờ công giáo đầu tiên tại Đà Nẵng và Hội An. Ngày nay, khi nói đến giao thương giữa Đàng Trong và Nhật Bản, các sử gia Nhật, Việt hoặc vô tình hoặc cố ý, lờ đi sự kiện nầy và vì thế không giải thích được lý do tại sao giai đoạn đầu thế kỷ 17 lại có lắm Châu Aán Thuyền đến Hội An như vậy. Tiến sĩ Li Tana khi nghiên cứu lịch sử xứ Đàng Trong giai đoạn từ 1604 đến 1635. cho biết khoảng thời gian nầy có 70 Châu Aán thuyền Nhật Bản, tức thuyền có phép xuất dương đến Đàng Trong. Tuy nhiên khoảng thời gian ngắn từ 1611 đến 1622 có đến 51 chiếc. ( Xem LI TANA, Xứ Đàng Trong, Nhà Xuất bản Trẻ, 1999, trang 60,61 ) Thời kỳ nầy trùng khớp với giai đoạn bế quan tỏa cảng, cấm đạo công giáo tại Nhật Bản. Sách Lịch sử công giáo Nhật Bản có ghi :
Mối quan hệ giao thương nở rộ với Cochin China là nguồn gốc định cư của người Nhật bản ở Touron (bây giờ là Đà Nẵng) và Faifo (Hội An). Các tu sĩ dòng Tên đầu tiên được gởi từ Macao đến những hải cảng này là Diego Carvalho bị trục xuất khỏi Nhật bản vào năm 1614 và Francesco Busomi. Cả hai đến vào tháng giêng năm 1615, Cha Carvalho săn sóc giáo hữu Nhật Bản ở Faiko.( Faifo, Hội An). Tuy nhiên, một năm sau Ngài trở về Macao, lại có thể xâm nhập vào Nhật Bản và đã chết tử đạo ở Sendai vào năm 1624, Cha Busomi định cư ở Touron ( Đà Nẵng) nơi Ngài đã xây dựng một Thánh đường, vài tháng sau Thánh đường bị người bản xứ thiêu hủy, Busomi ẩn nấp trong nhà của một giáo dân Công giáo người Nhật ở Faiko.
Các vị thừa sai mới, đến vào năm 1617: Pedro Marquez, sinh tại Nagasaki, Cha là người Bồ Đào Nha và Mẹ là Nhật Bản và Paul Saitò, người sau này tái nhập vào Nhật Bản và đã chết trên cọc (tử đạo) vào năm 1633. Mặc dầu chính quyền cũng khá chống đối tôn giáo mới, tân tòng người bản đại cũng như người Nhật Bản vẫn được rửa tội. Báo cáo mục vụ trong năm 1621 kể rằng, trong năm ấy đã có 82 người bản xứ và 27 người Nhật đã nhận phép rửa.
Năm 1631, Thánh đường ở Faiko bị phá hủy do lệnh chính quyền. Vào thời điểm ấy, nhiều người tị nạn đã đến và trong năm 1633, số lượng người Nhật gia tăng lên 300 người, thái độ của nhà cầm quyền địa phương là cương quyết duy trì sự chống đối với việc rao giảng Đức tin, chỉ dụ cấm đạo, ban hành chống giáo dân Công giáo bản địa và các vị thừa sai của họ, không bắt buộc những người định cư Nhật Bản phải thi hành, những người đóng vai trò như ngoài lãnh thổ. Trong hoàn cảnh này, giáo dân Nhật Bản có thể che dấu các vị thừa sai bị gây ưu phiền, tuy vậy, Busomi và Marquez vẫn bị cưỡng bách phải rời xứ sở tạm thời.
Ở Cochin China, tình hình giáo dân Công giáo Nhật Bản không bao giờ hứa hẹn, họ sống trong sự sợ hãi triền miên, phải bị khủng bố và một số trong họ đã bị đẩy vào chỗ chết với giáo hữu bản địa. Năm 1658, một số kytô hữu nổi bậc đã bắt đầu di cư sang xứ sở khác, năm 1665, mọi thừa sai nước ngoài đều bị trục xuất và sự khủng bố bao gồm mọi kytô hữu, bản địa cũng như Nhật Bản. Tiếc thay, một số người Nhật giàu có, những người đã là trụ cột của giáo hội, chịu thua mối đe dọa nhà cửa và tài sản phải bị tịch thu, đã bỏ đạo bằng cách thực hành Efumi. Trong hoàn cảnh đau buồn này, cộng đồng kytô hữu Nhật Bản suy sụp và trở nên tuyệt giống vào cuối thế kỷ 17.” ( Bản dịch từ A History of the Catholic Church in Japan, tác giả Joseph Jennes, CICM. Bản dịch tiếng Việt , xem Lịch sử Giáo Hội Công giáo Nhật Bản, Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, Hà Nội Quý 4, 2008 trang,235,236)
Quá rõ ràng, những ngôi nhà thờ công giáo đầu tiên mọc lên tại Cửa Hàn và Hội An thường nằm trong khu phố người Nhật Bản. Xác định lại vị trí các khu phố nầy là xác định được địa điểm nhưng ngôi nhà thờ đó. Điều nầy các chuyên gia còn đang tranh cải. Những ngôi nhà thờ nầy lần lượt bị phá hủy, năm 1617 tại Cửa Hàn và 1631 tại Hội An. Trong khi đó nhờ quen thân với Hoàng tử Nguyễn Phúc Kỳ, cha Pina thiết lập nhà thờ đầu tiên cho người Việt tại Dinh trấn Thanh Chiêm ( Chiêm Thượng theo Chu Thuấn Thủy, Dinh Cham theo các Giáo sĩ Tây phương).
Khi Tòa Thánh lập giám mục Tông tòa, Đức cha Lambert de la Motte được chỉ định làm giám mục Đàng Trong năm 1659. Hội Thừa sai Paris được thành lập và gữi người đến Hội An. Mối quan hệ giữa Dòng Tên và Hội Thừa sai có nhiều gây cấn. Vào thời kỳ đó, người Nhật công giáo suy yếu, ảnh hưởng Bồ cũng không còn với sự nhập cuộc của nhiều cường quốc hàng hải mới như Hòa Lan, Anh quốc, Pháp quốc, dòng Tên không đũ nhân sự, nên giáo dân trực thuộc dòng nầy cũng giảm nhiều. Ngược lại, ảnh hưởng các thừa sai Pháp mạnh hơn nên cha De Courtaulin cho xây dựng một nhà thờ mới thật to lớn bằng gổ lim tại Rue des Chinois, phố người Tàu ( Đại Đường Nhai), nay là đường Nguyễn Thái Học và Trần Phú. Nhà thờ nầy là nơi phong chức giám mục cho Đức cha Guillaume Mahot năm 1682 “Nhà thờ Hội An khá đẹp và khá tỷ lệ. Đây là một nhà rường, với các gian chạm trổ mộïc đến độ tinh xảo. Nhà thờ được nâng bởi hai hàng cột, mỗi bên 6 chiếc, cách nhau khoảng 15 bộ ( pieds) làm thành gian chính nhà thờ, là nơi dành riêng cho quý bà. Còn các ông thì hai gian bên. Gian cuối nhà thờ là một nhà nguyện cao hơn ba bậc cấp để kẻ xa người gần đều thấy linh mục” ( Xem Documents historiques de la Cochinchine tome 1, trang 271). Chỉ tưởng tượng cũng đã hình dung một ngôi nhà gổ tuyệt đẹp. Lạ lùng nhất là vị trí chổ ngồi của các bà, gian chính giữa.
Vào thời Đức cha Achards de la Baume đến giải quyết tranh chấp các Dòng tại Đàng Trong, thống kê 1747 cho thấy Hội An trực thuộc 4 nhóm khác nhau, điều đó cũng cho thấy có ít nhất 4 nhà nguyện tại vùng Hội An vì có tới bốn Hội dòng : Dòng Tên, Dòng truyền giáo, dòng Phan sinh, Hội thừa sai Paris.( Xem Dòng Tên trong xã hội Đại Việt 1615-1773. Đỗ Quang Chính ,SJ. trang 276-278.)
Năm 1750 lệnh Võ Vương trục xuất toàn bộ giáo sĩ và sau đó, cuộc chiến tranh Tây Sơn, Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn nổ ra trên khúc ruột Miền Trung nầy đã xóa sổ hầu như toàn bộ những công trình công giáo cũng như các di tích. Năm 1802, vua Gia Long thống nhất đấùt nước, đạo thánh chưa kịp phục hồi thì năm 1835 vua Minh Mạng đã ra lệnh triệt phá đạo công giáo và công việc đó chỉ chấm dứt sau Phong trào Văn thân “Bình Tây Sát Tả” vào năm 1886.
Giáo xứ Hội An có thể nói bị tận diệt. Vào đầu thế kỷ 20, các linh mục thừa sai Paris quy tụ các giáo dân còn sót hoặc làm việc tại Hội An lại. Theo sự tìm hiểu của linh mục Phêrô Lê như Hảo : “ Mãi tới năm 1914, một số giáo dân quy tụ về mới dựng được một nhà nguyện trên một gò hoang, gần khu nghĩa trang, nhưng không có linh mục phụ trách. Thỉnh thỏang mới có cha ở Phước Kiều về dâng thánh lễ” ( Tư liệu Hội An công giáo, kỹ niệm 385 năm ,lm Lê Như Hảo, trang 7) .Linh mục phụ trách vùng nầy lúc bấy giờ là Joseph Lalanne tức cố Lân, cha sở họ Trà Kiệu và các vùng phụ cận. Tiếp theo là linh mục Pierre Auguste Gallioz MEP tức cố Thiết, coi sóc họ Phước Kiều và Vĩnh Điện, La nang , Hội An.
Trong khi quy hoạch Faifoo (Hội An) , nơi có công sứ Pháp trú đóng, qua giấy “ giao kèo “ Contrat số 913, ký ngày 13 tháng 3 năm 1930, địa sở Hội An qua cha Joseph Lalanne Lân làm chủ thêm các lô đất cạnh nghĩa trang Pháp trên đường Gouverneur Général Charles ( Nguyễn Trường Tộ hiện nay). Đến năm 1935, linh mục Gallioz chính thức xây dựng kiên cố nhà thờ Hội An bằng gạch đá với hai ngôi tháp xinh xinh. Năm 1938, linh mục Gallioz được chấp thuận cho nới rộng khu đất nằm trên ba con đường Gouverneur Général Charles,( Nguyễn Trường Tộ) Oscar Mouliè ( Lý Thường Kiệt) và Pasteur. Năm 1953, quá lao tâm lao lực, ngài đã qua đời và được an táng tại khu nghĩa trang bên cạnh nhà thờ.
Linh mục Phao lô Nguyễn Tưởng, gốc xứ Nhà Đá , Bình Định làm quản xứ tiếp tục sự nghiệp , xây thêm nhà thờ Cẩm Nam, bị lụt năm thìn 1964 ( ?) dìm xuống sông. Năm 1964, ngài đột ngột qua đời và cũng được an táng tại nghĩa trang bên cạnh nhà thờ Hội An. Lm Antôn Bùi Ngọc Trợ và giáo dân di cư miền Bắc xây dựng nhà thờ Lê Lợi, sau năm 1975, đất đai bị phân tán. Tại Cẩm Hà cha Nguyễn Tri xây dựng một nhà thờ dành cho giáo dân tỵ nạn lụt lội và chiến tranh, nay đã bị xung công. Riêng nhà thờ Hội An cũ chỉ có diện tích 144 mét vuông không đũ chổ cho giáo dân mỗi ngày một đông thêm. Năm 1965 cha Giuse Lê văn Ly gốc Trà Kiệu đã phá xây lại nhà thờ mới trên nền cũ với diện tích 720 mét vuông như hiện nay.Vì nằm ngay đầu phi đạo, nên chính quyền cũ không cho làm tháp chuông, sợ tai nạn máy bay. Phải đợi đến năm 1995 linh mục Phêrô Lê như Hảo mới xây dựng thêm tháp với đồ án mới, độ cao bị hạn chế như hiện thấy. Ngày 15 tháng 2 năm 2005, Uûy ban nhân dân tỉnh Quảng nam chứng nhận giấy sử dụng đất số AB 306449 của giáo xứ với diện tích 4.187,4 m2.
Khi công nhận di tích lịch sử nhà thờ công giáo Hội An, chúng ta nên hiểu theo nghĩa rộng, nhà thờ Hội An như là biểu tượng cho sinh hoạt lâu đời của giáo hội công giáo tại thành phố lịch sử, di sản văn hóa thế giới nầy.
B. VỀ KHU NGHĨA TRANG
Thực ra chỉ có linh mục Pierre Auguste Gallioz đã nằm xuống tại đây năm 1953. Sau đó cha Phaolô Nguyễn Tưởng năm 1964. Sau năm 1975, do nhu cầu sinh sống nhiều ngôi mộ bị phá hoại, linh mục Lê như Hảo đã cho di dời ba ngôi mộ lâu đời các giáo sĩ tại phường Sơn Phong ( Sơn Phô, nôm na gọi là lò heo) và khi cải táng ghi tên ba vị giám mục Guillaume Mahot, Francois Perez và Valery Rist. Theo lời kể của những người tham gia cải táng hoặc chứng kiến khi hài cốt được đưa về quàn tại nhà thờ : “ sọ và xương rất to, dài”chứng tỏ đây là những người nước ngòai”. Việc ghi tên nầy gây ra nhiều tranh luận trong giới quan tâm đến lịch sử như linh mục Đỗ Quang Chính, người viết lịch sử Dòng Tên, Lê ngọc Bích... Vì lý do Đức cha Francois Perez được an táng tại Mỹ Xuyên ( Kẻ Thá? Kẻ tả? Kẻ tha?) cách Hội An trên 10 cây số. Đức cha Guillaume Mahot Mep chắc không nằm trong nghĩa trang Dòng Tên! Đức cha Valery Rist thì chưa đồng thuận chết và chôn ở đâu!
Sau khi tìm hiểu, chúng tôi rất may có trong tay tài liệu của Albert Sallet, bác sĩ viện trưởng quân đội thuộc địa,một người được mệnh danh là nhà “ Quảng Nam học” vì ông chuyên viết những đề tài lịch sử, hoặc phong tục, thắng cảnh vùng Quảng Nam đăng trên tạp chí nổi tiếng Bulletin des Amis du vieux Huế ( Tạp chí những người bạn cố đô Huế ). Vào năm 1919, tập 6, trong bài Hội An cổ, sau khi nói về các di tích Chăm, ông chuyển qua các di tích Nhật Bản và phần ba nói về các ngôi mộ người Aâu châu..
Bác sĩ Albert Sallet viết như sau “ Trong cụm dân cư Sơn Phố, về phía đông đồn lính khố xanh, người ta bắt gặp một thửa vườn trồng trọt có ba ngôi mộ bên ngoài xem giống như ba khối chử nhật gồm sỏi đá và vôi. Các ngôi mộ đặt gần như hướng Nam Bắc. Hai trong số đó là mộ chính nối nhau. Ngôi mộ phía Nam không còn dấu vết ghi chú gì còn lại nữa, còn cái kia là của cha Sana và phía mặt trên ngôi mộ có biển đá đen mà sự vô tâm của con người còn ác hơn cả nguy hại của thời gian, đã xóa vài góc làm mờ hay mất hẳn một số chữ nho. Tôi có đồ lại và gữi cho Huế Cổ kính.
Tôi không biết gì về Sana, ngoài phần ghi trên bia đá và những gì cha Cadière kể về vị linh mục kiêm thầy thuốc, là người đi tiên phong trong việc cứu tế tại Phố ( Hội An) ..... Hai ngôi mộ mỗi cái đo được khoảng 2m70 chiều dài trên 1m30 chiều rộng, ngôi mộ không còn dấu tích là của một linh mục người Aâu khác.
Cái mộ thứ ba kích thước nhỏ hơn, nằm dựa bên mộ cha Sana, phía bên phải chứa hài cốt thầy giảng của ông” . ( Bản tiếng Pháp Bulletin des amis du Vieux Huế, 6, 1919 pp.516.517. Bản dịch của Đặng như Tùng, Những người bạn của Cố đô Huế Tập 6, 1919, Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, tr.376. 377 . Xin phép thêm vài từ khác bản dịch, chữ thẳng). Cha Gioan Baotixita Sana hoặc Sanna là một linh mục Dòng Tên làm ngự y cho Chúa Nguyễn và làm từ thiện ở Hội An 12 năm cho đến khi chết vào năm 1726. Vị linh mục nầy và các cha thừa sai Paris không nhất trí với nhau trong một số công việc mục vụ. ( Xem sách Dòng Tên trong xã hội Đại Việt của linh mục Đỗ Quang Chính )
Vì khu mộ nằm tại Sơn Phong (hoặc Sơn Phố ) mà đây là mộ của các linh mục Dòng Tên, từ đó ta có thể đặt giả thuyết, đây chính là nơi có nhà nguyện đầu tiên của cha linh mục dòng Tên, và nơi có nhiều kiều dân Nhật sinh sống.
Bên cạnh mộ cha Sanna có bia mộ còn vị giáo sĩ người Aâu không bia mộ kia là ai? Chúng ta phải nghĩ ngay đến một linh mục cùng Dòng Tên khác, trước đó vào năm 1625, có linh mục Francisco de Pina, chết đuối tại biển Đà Nẵng và được đưa về an táng linh đình tại Hội An. Mà nếu đây là di hài của ngài thì khu mộ các giáo sĩ phương Tây tại nhà thờ Hội An sẽ vô cùng giá trị, vì ngài là người đầu tiên có công hình thành việc viết chữ quốc ngữ bằng mẫu tự La Tinh, giúp đất nước Việt Nam tiến bộ vượt bậc về văn hóa, văn chương.
Từ nay khu mộ nhỏ bé sẽ trở thành một nơi lưu dấu kỷ niệm.
Người công giáo Việt Nam sẽ nhớ về công khó bao nhiêu vị truyền giáo “ra đi không hẹn ngày về” chỉ vì mục tiêu làm sáng danh Chúa, cứu rỗi mọi người theo lệnh của Chúa Cứu Thế “ Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế giới” Mc 16,19.
Nơi đây, cũng là nơi tìm về của nhiều dân tộc công giáo Nhật, Bồ Đào Nha, Avignon : lãnh địa Đức Giáo Hoàng, Trung Quốc, Tây Ban Nha, Aán Độ, Pháp, Ý, Đức, Tiệp Khắc...những nước đã cung cấp nhiều giáo sĩ cho công cuộc truyền giáo tại Việt Nam.
Ước mong các giáo xứ thuộc giáo phận Đà Nẵng cũng như cả thế giới sẽ giúp Hội An có thêm nhiều tư liệu và kinh phí để trùng tu nhà thờ và khu mộ. Tuy ngày nay mới là di tích lịch sử và văn hóa của tỉnh Quảng Nam, nhưng trong tương lai gần, sớm trở thành một địa chỉ du lịch, một trung tâm hành hương giáo hội Việt Nam và giáo hội toàn cầu.
Hội An ngày 18 tháng 2 năm 2009
Linh mục Antôn Nguyễn Trường Thăng
Quản xứ Hội An.
Trước đây, tôn giáo bạn Phật Giáo có rất nhiều ngôi chùa tại Hội An đã nhận di tích lịch sử cấp quốc gia. Phần giáo hội công giáo, đây là lần đầu tiên tại giáo phận Đà Nẵng có một giáo xứ nhận được bảng xếùp hạng trên. Tuy còn quá khiêm tốn , thuộc cấp tỉnh, nhưng hy vọng với thời gian những di tích trên sẽ được nâng lên cấp cao hơn. |