Khi nghe nói về những kế hoạch mục vụ, ta thường nghĩ ngay đến việc lên một chương trình bố trí sẵn thúc đẩy giáo dân tham gia. Kế hoạch của cha Gioan Vianney không khởi sự bằng việc bắt giáo dân phải làm gì, hay bắt ngài phải làm gì cho họ. Ngài khởi sự bằng những gì ngài phải làm cho chính đời mình.
Kế Hoạch Mục Vụ của Cha Xứ Họ Ars
Mục Vụ Bắt Đầu Từ Mục Tử
Cha Vianney đến xứ Ars một thế hệ sau cuộc chuyển biến về chính trị và văn hóa chưa từng có tại Pháp. Cuộc Cách Mạng và Cơn Khủng Bố theo sau đó, luật pháp khắt khe dưới thời Napolêon, khắp nơi nhà thờ bỏ trống, các cộng đoàn và sinh hoạt tôn tôn giáo vắng bóng, người ta công khai đả kích Giáo Hội Pháp, những sự kiện này còn như mới trong tâm trí nhiều người. Mầm mống tục hóa của Cách Mạng sâu vào xã hội Pháp, ngay cả các làng quê nhỏ bé cũng bị giao động. Thiên Chúa và Giáo Hội bị loại ra ngoài lề xã hội Pháp mỗi ngày một hơn.
Biến động còn xảy ra ngay trong Giáo Hội Pháp. Nhà Nước tìm cách thâu tóm Giáo Hội đi quá xa tới chỗ bó buộc các giáo sĩ phải thề làm linh mục trung thành với Nhà Nước, biến họ thành nhân viên cho Nhà Nước hơn là người phục vụ cho Tin Mừng. Hơn thế nữa, tín hữu bị vấp phạm khi thấy nhiều linh mục chịu thua trước áp lực này, trong đó có cha Saunier, cha xứ Ars bấy giờ. Từng theo học tại Sorbone, vị mục tử này đã thề vào năm 1791 và từ đó cuộc suy thoái lòng đạo tại họ Ars bắt đầu.
Năm sau đó, nhà thờ giáo xứ bị cướp phá, cha Saunier rời bỏ thánh chức. Cung thánh thành nơi hội họp của câu lạc bộ những người ‘tự do tư tưởng’ trong vùng. Tuy Giáo Hội tại Pháp bắt đầu khôi phục lại từ năm 1801, nhưng căng thẳng và xáo trộn trong hàng giáo sĩ vẫn còn. Linh mục nào đáng tin cậy đây? Những linh mục đã thề, một số vị đã lấy vợ thì sao? Còn những vị không chịu thề và phải khổ lụy hay có khi bị giết chết thì sao? Nước Pháp trong thế kỷ 19 phải hứng chịu nạn thiếu linh mục.
Nạn chểnh mảng và thờ ơ đạo nghĩa manh nha từ thời Cách Mạng ảnh hưởng trên đời sống họ đạo Ars. Dân chúng thường xuyên bỏ lễ chủ nhật, và lo làm ăn tất bật. Làng nhỏ bé này hãnh diện có được bốn quán nhậu: nhiều gia đình đến đó tiêu xài. Lễ chủ nhật không đi nhưng lễ hội kéo dài thâu đêm lại đi và cuối cùng sa vào các thói xấu thông thường.
Tình trạng khô đạo tràn lan nơi người lớn lẫn trẻ em, cho dù mầm đức tin còn lác đác trong một số gia đình. Người ta không khinh thị đức tin và chức linh mục, họ chỉ không màng chi đến thôi. Ảnh hưởng của Cách Mạng và Cơn Khủng Bố, và gương xấu hàng linh mục hay sự thiếu vắng những linh mục vững vàng làm cho giáo xứ không ổn định, dốt nát, lộn xộn và nguội lạnh.
Bước vào môi trường văn hóa này là một linh mục nhỏ thó quê làng Ecully, ngài đem cho họ một thứ họ chưa thấy bao giờ. Ngài làm thế nào vậy? Có 8 nhân tố cơ bản trong kế hoạch mục vụ của ngài: 1/ làm một linh mục biết tư hoán cải; 2/ tỏ ra ân cần dễ tiếp xúc trong cách ứng xử; 3/ cầu nguyện và khổ chế; 4/ dồn năng lực vào những gia đình còn giữ đạo; 5/ đặc biệt quan tâm tới phụng vụ, giảng thuyết và giáo lý; 6/ tiếp cận vấn đề tận gốc rễ chứ không ở triệu chứng; 7/ gieo trồng thói quen tốt trong việc cầu nguyện và việc làm phúc; và 8/ làm tất cả với bản lãnh linh mục vững vàng.
Khi nghe nói về những kế hoạch mục vụ, ta thường nghĩ ngay đến việc lên một chương trình bố trí sẵn thúc đẩy giáo dân tham gia. Kế hoạch của cha Gioan Vianney không khởi sự bằng việc bắt giáo dân phải làm gì, hay bắt ngài phải làm gì cho họ. Ngài khởi sự bằng những gì ngài phải làm cho chính đời mình.
Sự linh thánh
Trước tiên ngài chủ tâm lo việc cứu rỗi linh hồn mình, và lôi kéo người khác vào con đường thánh thiện bằng gương sáng của mình. Làm thế là ngài theo những giáo huấn của các Thánh Tổ sống trong sa mạc và của chính Chúa: Nếu muốn thánh hóa người khác, hãy bắt đầu nơi chính bạn. Cha Gioan Vianney khởi sự hoán cải giáo xứ bằng hoán cải chính mình, và cha hoán cải thêm thì giáo dân cũng hoán cải thêm. Khi đến Ars cha chưa phải là vị thánh. Ngài trở nên một vị thánh bằng cách là một linh mục cho đàn chiên và đạt tới sự thánh thiện qua thời gian nhờ ân sủng và cuộc chiến đấu.
Sự hoán cải nơi con người và linh mục Vianney chính là nền tảng không thể thiếu đượcvà từ đó đã trổ sinh hoa trái trong hành động. Cha sớm tập thói quen đi rảo quanh trong giáo xứ vào những lúc có nhiều người ở nhà. Cho dù sự hiện diện của cha không được hết thảy chào đón, dân làng nhận định cha sở mới của họ “rất tốt lành, vui vẻ, và hòa nhã.”
Nhờ tính dễ tiếp xúc, Cha Vianney làm gương cho điều mà Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II viết trong thời chúng ta: “Điều quan trọng là linh mục rập khuôn nhân cách mình như thế nào để mình trở thành một chiếc cầu chứ không phải là chướng ngại vật cho tha nhân trong cuộc gặp gỡ Đức Kitô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại.( Tông huấn Pastores Dabo Vobis, 43).
Khi vừa đặt chân tới ranh giới xứ đạo mới lần đầu tiên, Cha Vianney đã quì xuống và cầu nguyện. Ngài ý thức sâu sắc rằng sứ mệnh giao phó cho ngài hoàn toàn vượt quá khả năng của mình. Nếu sứ vụ linh mục của ngài sinh hoa trái, thì đó là do Chúa Giêsu làm qua cha. Vì thế người ta thấy cha gục đầu xuống nền nhà thờ sáng sớm và khuya tối để van nài, hay cả khóc lóc nữa để xin ơn hoán cải cho giáo xứ mình.
Khi thi hành sứ vụ, cha xứ họ Ars đặt lời cầu nguyện lên hàng đầu, điều này quá hiển nhiên nơi cha và là một bài học cho các cha xứ. Bệnh ung thư của thuyết Pelagianism1 còn ưu thắng giữa chúng ta còn hơn ta tưởng. Chúng ta đã mắc lừa khi nghĩ rằng mình có thể hoàn thành sứ vụ linh mục dựa vào khả năng riêng, hay tính sáng tạo và hoạt động của mình.
Đặc biệt các linh mục trẻ của chúng ta rất dễ ngây ngô nghĩ rằng họ cứ lao mình vào hoạt động mà không cần biết chỉ có lời cầu nguyện và sám hối trong ân nghĩa Chúa mới làm cho sinh hoa trái. Cha Vianney nhắc nhủ linh mục quản xứ việc dâng lễ hằng ngày, kiên định trong giờ kinh phung vụ, trung thành với giờ thánh, tĩnh tâm năm, thực hành bỏ mình là nền tảng cần thiết cho tácvụ rao giảng, thánh hóa và cai quản.
Cha xứ họ Ars trước tiên tập trung vào các gia đình còn vững đức tin và biết chống cự lại trào lưu thế tục và bỏ đạo. Cách tiếp cận này xem ra đị ngược lại lại cảm quan thường tình. Sao lại dồn sức lực cho những người đã giữ đạo? Câu trả lời của ngài là họ sẽ trở thành những cục than nóng hong khô đám củi của phần còn lại trong giáo xứ và thổi bùng cháy lên. Việc ngài làm gây hiệu ứng từ những gia đình này lan rộng dần dần sang đếnlàng lân cận.
Nét đẹp
Bởi vì dân chúng bỏ lễ Chú nhật,ngài cho làm đẹp nhà thờ để lôi cuốn họ. Chỗ đặt Mình Thánh Chúa phải là chỗ thật đẹp. Thậm chí ngài lấy tiền riêng mua bàn thờ và tượng ảnh mới. Ngài chịu chi tiền mua lễ phục sang trọng cho dù ngài chỉ mặc áo dòng cũ nát. Không kiểu cách trong việc ăn uống nhưng ngài lại rất chăm chút tới chất lượng của những đồ vật được đem vào nhà thờ. Có người sẽ phê bình rằng món tiền đó nên để cho người nghèo, tuy nhiên, cha sở cũng rất quảng đại với người nghèo không kém.
Ngài cử hành các Mầu Nhiệm Thánh trong cung cách tỏa sáng. Có thể đọc thấy lòng yêu mến thánh lễ trên mặt ngài. Ngài rất trung thực, tự cho phép mình cười hay khóc khi nào các mầu nhiệm làm thổn thức. Cung kính và nghiêm túc, ngài không cố sức làm cho cử hành nên thức thời, một chỉ lo sao để có một phụng vụ đẹp đẽ.
Lối ngài giảng thật rõ ràng và tập trung nơi những mầu nhiệm trung tâm của đức tin. Ngài chăm chút bài giảng qua hàng giờ học hỏi và trong thời gian đầu thi hành tác vụ thường ngài dành mỗi tuần mấy tiếng đồng hồ để soạn bài giảng lễ chủ nhật.
Cùng với việc làm đẹp phụng vụ và vất vả soạn giảng, ngài bắt đầu có tổ chức việc dạy giáo lý trẻ em. Không may, việc rước lễ lần đầu chỉ còn là hình thức, một việc phải có trong đời đứa trẻ. Ngài dùng những thuật khôn khéo của mục tử để dụ chúng trước: “Em nào tới trước hết sẽ được ảnh thánh.” Ngài thôi thúc phụ huynh chịu trách nhiệm đời sống đạo của con em mình. Cha tự mình dạy giáo lý cho đến khi có người phụ tá được phái đến vào 27 năm sau. Một giáo xứ nhỏ bé cho phép ngài làm được điều đó. Chỉ sau ít năm, trẻ em xứ Ars biết giáo lý hơn các xứ lân cận.
Cha xứ nào cố gắng trung thành với Chúa và Hội Thánh, muốn kiên quyết thay đổi sẽ gặp khó khăn biết bao khi đương đầu với lời phê bình chỉ trích. Chúng ta dễ thấy mình bị xúc phạm vì những lời người khác nói về mình và bị cám dỗ để nói cho qua chuyện hay bỏ không làm điều cần phải làm.
Đời sống hàng quán ở Ars biểu hiện một tinh thần bệnh hoạn. Người ta ra sức làm lụng và vui chơi chứ không ra sức làm cho Chúa. Cả nông dân lẫn nhóm quí tộc nhiễm thói quen này. Hàng quán là nơi người ta xúc phạm danh Chúa, quen mồm rủa nộp, thề nguyền và phung phí tiền của.
Cha Vianney ra tay đóng cửa các quán này. Theo lời của người viết tiểu sử, Cha Vianney thẳng thừng công kích họ. Tuy nhiên ngài quan tâm đến phương tiện sinh sống của các chủ nhân. Khi người ta phàn nàn vì ngài giảng mà khách không tới nữa và gây thiệt hại kinh tế cho họ, ngài cho gia chủ đủ tiền để đóng cửa quán rượu của mình. Hết quán này tới quán khác lần lượt đóng cửa và chuyển sang nghề nghiệp khác.
Trong làng hầu như không còn đọc kinh gia đình, và hầu hết nông dân và công nhân không thể dự lễ sáng. Ngài xướng kinh lần chuỗi ban tối ở nhà thờ. Về đời sống đạo riêng của giáo dân, Cha dạy họ xét mình mỗi ngày, đọc đoạn sách thiêng liêng ngắn, suy gẫm, và dâng đau khổ hằng ngày. Ngài cộng tác với các linh mục lân cận tổ chức việc truyền giáo và xưng tội trong từng giáo xứ. Qua các việc tông đồ này mà người ta phát hiện đặc ân làm cha giải tội nơi cha.
Thêm vào các nỗ lực trong lời cầu nguyện là việc bác ái giúp đỡ về thể chất lẫn tinh thần. Khi cha tới, họ Ars không có trường học. Cha tuyển chọn hai thiếu nữ trong xứ rồi gửi đi đào tạo làm giáo viên. Cha cũng quan tâm tới trẻ mồ côi và trẻ em bụi đời đi ăn xin trong vùng, và mở một viện mồ côi.
Trong vòng tám năm, nhờ ơn Chúa và các cố gắng của mình, cha xứ họ Ars đã làm cho giáo dân biết dành cho Thiên Chúa một địa vị tối cao trong đời sống họ, và dạy dỗ họ chuyên chăm cầu nguyện và quan tâm tới người nghèo.
Nói tóm lại, để cải hóa người làng Ars, cha đã không cần phải trở nên một nhà phân tâm, một công chức, một nhà hoạt động xã hội. Kế hoạch của cha đem lại hiệu quả không phải vì cha có đặc sủng hay do lòng ‘sùng bái cá nhân’ cha. Chỉ vì ngài là cha xứ của họ, cha xứ họ Ars. Tất cả những gì cần phải có đó là cố gắng trở nên một con người và một linh mục như Chúa Giêsu mong muốn.