Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI


Cờ Tòa Thánh Vatican

 



Đại Hội Dân Chúa 2012



Giáo Lý Cộng Đồng


Năm Thánh 2010


Sunday Mass in English


Giờ Lễ


 


Thánh Nhạc


Bản đồ truy cập

 
Chuyên mục » TƯ LIỆU » Chuyên Đề Hôm nay la 18-05-2012 14:16
Khổ hạnh Kitô giáo đối với chủ nghĩa tiêu thụ
2011-06-24 21:29:37

KHỔ HẠNH KITÔ GIÁO:

PHÁ VỠ GỌNG KÌM TAI ÁC CỦA CHỦ NGHĨA TIÊU THỤ

 

Đôi lời giới thiệu: Trong những ngày này, các gia đình Công Giáo trên khắp thế giới đang học hỏi và chuẩn bị cho Đại Hội Thế Giới Các Gia Đình lần thứ 7 sẽ diễn ra tại Milanô vào đầu tháng 6-2012, với chủ đề “Gia đình: làm việc và mừng lễ”. Điểm nhắm là vãn hồi một sự cân bằng đúng đắn cho việc tổ chức đời sống gia đình, trong đó ngày Chúa Nhật và các ngày Lễ không bị nuốt chửng bởi nhịp sống hối hả và nhiễm nặng tính thế tục của thời hiện đại.

Chúng tôi cũng vừa mới giới thiệu những suy tư của Cha John A. Hardon, S.J., Tôi Tớ Chúa, trong bài “Linh Đạo Thời Nay”. Trong tầm nhìn linh đạo của Cha Hardon, một nét đặc trưng của thế giới phương Tây hôm nay là sự sung túc. Và đứng trước sự sung túc này, ngài nói: “Nét nổi bật trước hết của linh đạo thời nay là - và phải là - tinh thần nghèo khó. Điều này có nghĩa rằng ta phải có một tinh thần siêu thoát thực sự đối với cơ man những thứ dễ chịu mà xã hội sung túc đang cung ứng cho ta.”

Trong cùng chiều hướng, chúng tôi xin tiếp tục giới thiệu ở đây bài viết tâm huyết của Cha Timothy V. Vaverek. Ngài nhận diện tính hủy diệt (destructive) của chủ nghĩa tiêu thụ, và ngài diễn giải công hiệu chữa trị chủ nghĩa này nơi việc thực hành khổ hạnh Kitô giáo.

(Người dịch)

 

 

 

Trong kinh nghiệm 15 năm sứ vụ linh mục của mình, tôi thấy rằng các vấn đề của cá nhân và gia đình Kitô hữu liên quan rất nhiều tới chủ nghĩa tiêu thụ vốn là đặc trưng của lối sống Mỹ hôm nay. Tôi nghĩ nhiều đến các khía cạnh tâm lý và tôn giáo của chủ nghĩa tiêu thụ, song tôi cũng ngày càng quan tâm tới sự bất ổn về mặt kinh tế và xã hội mà chủ nghĩa này gây ra. Mặc dù không phải là một nhà thần học hay một chuyên gia phân tích xã hội, vốn liếng thần học và kinh nghiệm mục vụ của mình cũng cho tôi biết rằng đã tới lúc Giáo Hội phải có một câu trả lời cụ thể trước mối nguy đang ngày càng lan rộng trên cả mặt đạo lẫn mặt đời. Trong bài này tôi muốn khảo sát cấu trúc của gọng kìm tai ác do chủ nghĩa tiêu thụ - và nêu ra một số thực hành theo truyền thống khổ hạnh Kitô giáo có thể giúp phá vỡ gọng kìm ấy.

 

SỰ BẤT ỔN DO CHỦ NGHĨA TIÊU THỤ:

MẤT THỜI GIAN, MẤT CẢM THỨC HÀI LÒNG, VÀ MẤT AN TOÀN

 

Do hạn chế về chuyên môn, tôi không thể cung ứng một phân tích kinh tế về chủ nghĩa tiêu thụ, nhưng dù sao cũng phải tiếp cận nó một cách hiện sinh, khảo sát các hệ quả của nó từ nhãn giới triết học và thần học. Nói “chủ nghĩa tiêu thụ”, tôi không có ý chỉ nền kinh tế “thị trường tự do” hay “tư bản chủ nghĩa” (mặc dù những thực tại này có thể mang một hình thái chủ nghĩa tiêu thụ). Đúng hơn tôi có ý nói về một trật tự kinh tế và xã hội đặt nền trên việc tạo ra và thúc đẩy một cách có hệ thống lòng khao khát chiếm hữu nhiều hơn và nhiều hơn mãi những của cải vật chất và sự thành công cá nhân. Chủ nghĩa tiêu thụ hứa hẹn “một cuộc sống tốt đẹp hơn” cho tất cả những ai làm việc cật lực, nhưng tôi tin rằng nó thực sự dẫn tới một sự bất ổn kinh tế và xã hội có chiều hướng hủy diệt hệ thống tiêu thụ và những ai bám chặt vào hệ thống này.

Một trong những lời phàn nàn phổ biến nhất nơi các giáo dân ở giáo xứ tôi – lời phàn nàn này, nói chung, trong tư vấn thiêng liêng người ta đã xác nhận là có thực – đó là tình trạng thiếu thời gian. Các đôi vợ chồng và các gia đình thấy rằng mình có quá ít thời gian dành cho nhau, bởi vì ai cũng quá bận rộn theo đuổi trăm công ngàn việc của mình. Họ hối hả từ buổi sáng thức dậy cho đến trưa, chiều, tối. Họ làm việc ngoài giờ, tham dự những sinh hoạt ngoại khóa ở trường, có mặt tại vô số sự kiện xã hội mà họ cố nhồi nhét vào trong lịch sinh hoạt của họ. Kết quả là họ thường phải xén bớt một hay hai tiếng trong giờ ngủ của mình mỗi tối. Họ thường xuyên mệt mỏi, và thỉnh thoảng nếu có được thời gian rảnh, thì họ sà tới trước màn hình TV, VCR hay computer.

Lối sống này trở thành phổ biến cho hầu như tất cả chúng ta. Đó là một lối sống không có chỗ cho thời gian nghỉ ngơi và cho những tương giao nhân vị có sức đem lại sự bồi bổ thực sự. Đó là một thế giới trong đó sự cầu nguyện, đời sống thiêng liêng, Hội Thánh, Thiên Chúa... thường được nhét vào mất hút giữa cơ man những sự kiện của ngày sống, thay vì được dành cho chỗ xứng hợp là trọng tâm mà toàn bộ ngày sống phải hướng về. Nhiều giáo dân của tôi cảm thấy có gì đó trục trặc trong đời sống của họ, nhưng xem chừng họ không thể chỉnh sửa cái trục trặc này. Tại sao?

Tôi tin rằng một phần của câu trả lời nằm ở cái cách mà xã hội tiêu thụ khai thác những điểm yếu cố hữu nơi con người vốn bản tính đã sa ngã. Chủ nghĩa tiêu thụ tạo ra và nuôi dưỡng lòng khao khát của con người đối với những của cải nay còn mai mất. Chúng tạo ra và nuôi dưỡng cái cảm thức rằng hạnh phúc hệ tại ở sự chiếm hữu được món này món nọ. Chúng ta bị điều kiện hóa để không bao giờ thỏa mãn với mức mình đạt được, trái lại ta luôn muốn có “nhiều hơn nhiều hơn mãi” qua việc không ngừng tăng cường hiệu suất làm việc của mình.

Khỏi phải nói, tình trạng điều kiện hóa này là mảnh đất tốt cho vô số khát vọng ích kỷ của con người. Chúng ta khoan khoái và tự hào thấy mình là trung tâm của cái thế giới mà mình đã tạo lập nên. Sự ích kỷ và xu hướng săn đuổi tiện nghi của chúng ta làm cho ta dễ dàng chấp nhận cái khẩu hiệu “càng nhiều càng tốt”. Ý chí đã bị xáo trộn của chúng ta được uốn ép để nội tâm hóa cái nguyên tắc “tính trước sự lỗi thời,” theo đó chúng ta được dạy cho biết không thỏa mãn với những gì mình đã có, để luôn muốn có nhiều hơn. Vì vậy chúng ta không thể hài lòng với bất cứ gì, và thấy mình luôn phải cố gắng tranh thủ thêm. Chúng ta cho rằng thái độ “tri túc tiện túc” hay “an phận” là lười biếng, là bất lực, là thiếu chí tiến thủ, và chúng ta xếp những người đó vào loại thất bại. Những người vợ, người chồng, hay các bậc cha mẹ an phận thủ thường sẽ bị coi là thiếu tấm lòng, vì họ không lo cho gia đình có được mọi thứ “tốt nhất có thể”. “Khá tốt” thì không bao giờ được coi là tốt!

Nỗi thèm khát về một “cuộc sống đầy đủ hơn” đang làm xáo trộn đời sống cá nhân và kinh tế của chúng ta. Vì không hài lòng với những gì mình có, và vì không bao giờ cho phép mình an phận, chúng ta phải luôn tìm kiếm và chiếm hữu nhiều hơn. Nghĩa là, chúng ta phải làm việc nhiều giờ hơn, phải lấp đầy ngày sống của mình với đủ thứ hoạt động để khẳng định chính mình hơn, và phải gia tăng chi tiêu để có được mức sống sung túc hơn nữa. Bằng cách này chúng ta trở thành nô lệ của tham vọng không cùng, nô lệ của thời gian, tiền bạc, nô lệ của những áp lực công việc vốn không bao giờ cho phép chúng ta được thở.

Tôi tin rằng chính áp lực chiếm hữu này của chủ nghĩa tiêu thụ giải thích một vấn đề nữa trong đời sống Mỹ hiện đại, đó là: tiết kiệm giảm xuống và nợ tăng lên! Trong một nền kinh tế tiêu thụ, số thu nhập thực tế được chi tiêu để thỏa mãn khát vọng và những tiêu chuẩn đời sống vốn được thổi phồng một cách nhân tạo, trong khi lẽ ra nó phải được dành để dự phòng cho các nhu cầu tương lai của gia đình cũng như để chia sẻ cho người nghèo. Đối với một gia đình theo chủ nghĩa tiêu thụ thì câu hỏi liên quan đến ngân sách không còn là mình có khả năng bao nhiêu để chi trả cho một chiếc ô tô, một căn nhà, một chuyến đi nghỉ, những món áo quần..., nhưng là mình có thể trả góp mỗi tháng bao nhiêu để sắm những thứ ấy. Trong tiến trình này tài sản riêng bị chuyển từ vai trò một sự tích lũy để dự phòng trở thành một món thế chấp vay nợ để theo đuổi một mức sống vượt quá khả năng đáp ứng thực tế của mình. Và như vậy, bên cạnh tình trạng nô lệ cho tham vọng, thời gian, tiền bạc, người ta còn trở thành nô lệ cho các con đẻ của chúng nữa, đó là: việc mua hàng trả góp và hệ thống tài chánh gắn liền với nó. Có cái nghịch lý đầy bi kịch là khi bạn càng lao theo chủ nghĩa tiêu thụ, thì bạn càng có nhiều thứ hơn, nhưng hóa ra bạn càng ít làm chủ hơn và ít cảm thấy thỏa mãn hơn. Hiện tượng này đang gây bất ổn tận gốc rễ đời sống cá nhân cũng như cộng đồng.

 

TÍNH PHI NHÂN CỦA CHỦ NGHĨA TIÊU THỤ:

NỖI HỤT HẪNG VÀ LO SỢ

 

Chủ nghĩa tiêu thụ tạo ra một lối sống thật sự tệ hại. Đáng ra người ta làm việc và sử dụng thu nhập của mình để mang lại sự ổn định kinh tế bản thân và gia đình xuyên qua quyền sở hữu; nhưng hệ thống tiêu thụ lôi kéo người ta đầu cơ lao động và tiền bạc cho những phong cách sống giả tạo, trong đó họ “có” nhiều thứ nhưng họ không “làm chủ.” Và như vậy người ta không có được sự ổn định tối thiểu dựa trên tài sản riêng của mình. Họ không thể an tâm dựa vào thành quả lao động của mình, vì họ không làm chủ thành quả ấy. Con người tiêu thụ thời nay cũng giống như người phu mỏ than thời trước, họ thậm chí không được phép ‘chết,’ vì linh hồn họ đã được ‘cầm’ nơi công ty rồi. Nhiều người Mỹ hiện đại dường như ‘cầm’ toàn bộ cuộc sống mình nơi sở làm và nơi thị trường: lương bổng và chế độ săn sóc y tế của họ đến từ người chủ việc, tiền bạc và tài sản của họ bị cột chặt trong các món nợ, và hưu bổng của họ được đầu tư vào các quĩ tín dụng hay các cổ phần khác. Sự an toàn tài chánh hệ tại ở việc người ta có cái gì đó để dựa vào khi nền kinh tế hóa ra tồi tệ, thế nhưng phần lớn những gì mà họ hy vọng sở hữu lại phải giả thiết chí ít là một nền kinh tế vận hành tương đối tốt. Nếu nền kinh tế sụp đổ thì họ sẽ trắng tay, không còn gì ngoại trừ những món nợ mà họ không thể thanh toán. Làm sao những người như thế có thể hy vọng có được sự an toàn hay ổn định tài chánh? Thêm vào đó còn phải kể đến những loại hình kinh doanh và những công nhân luôn dịch chuyển địa điểm rày đây mai đó, đến độ chẳng bao giờ cư trú đủ lâu tại một nơi nào, và các thành viên gia đình thường phải sống xa cách nhau. Người ta dễ hiểu tại sao có một nỗi sợ ngày càng tăng về viễn ảnh của một tuổi già phải sống thui thủi một mình, hoặc trở thành gánh nặng cho gia đình và cho cộng đồng.

Những người chìm đắm trong lối sống tiêu thụ không thể dành sự quan tâm thích đáng cho việc nghỉ ngơi, giải trí, cho những niềm vui hay cho việc cầu nguyện. Đơn giản vì họ không có thời gian, sức lực hay sự an tâm để làm thế. Họ sống với một nỗi ám ảnh trong lòng thúc bách họ dấn tới trong những nỗ lực không cùng để cố nắm chắc cái mà họ không thể nắm chắc được: lối sống phi thực tiễn của họ! Cho dù họ có thể đặt Thiên Chúa vào một chỗ nào đó trong lịch của mình, thì đó vẫn là trục trặc, bởi vì Thiên Chúa không thể bị đối xử chỉ như một điều tốt giữa bao điều tốt khác: Ngài là Thiên Chúa độc nhất, là nguồn mạch siêu việt của mọi điều tốt. Chúng ta không thể nào phụng sự Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacóp nếu như chúng ta không yêu mến Ngài với trọn tâm hồn mình (yêu Ngài bằng trọn tâm hồn, chứ không duy chỉ là đặt Ngài ở vị trí thứ nhất trong bảng danh sách!)

Chúng ta cũng không thể nào yêu thương chính mình hay yêu thương anh chị em xung quanh cho xứng hợp nếu như chúng ta không yêu mến Thiên Chúa. Người theo chủ nghĩa tiêu thụ, vì thế, không có khả năng yêu mến và phụng sự Thiên Chúa cho thích đáng, cũng không có khả năng yêu thương chính mình, gia đình, Giáo Hội, cộng đồng... bởi vì họ bị cột trói trong nỗ lực tranh thủ một cuộc sống giàu có hơn. Nhiều khi, thật tội nghiệp, họ nghĩ rằng mình cứ dồn sức thêm cho công việc, rồi mình sẽ có thể xếp được thời giờ cho Thiên Chúa và cho tha nhân; nhưng họ lại sợ rằng bất cứ sự “buông lơi” nào trong công việc cũng là một vuột mất cơ hội Chúa ban để cung ứng cho gia đình được toàn mãn. Lộng giả thành chân, tình yêu đối với Thiên Chúa được họ chuyển thành lời cám ơn Ngài vì Ngài đã ban cho khả năng gia tăng tối đa mức sống, trong khi tình yêu đối với tha nhân thì họ đồng hóa với việc cung cấp cho tha nhân món này món nọ. Chúng ta chỉ cần khảo sát tình hình tài chánh của một gia đình Kitô hữu tiêu biểu ở Mỹ sau dịp lễ Giáng Sinh để thấy cái tâm thức nói trên đã phổ biến như thế nào.

Thay vì đạt được một cuộc sống tốt đẹp hơn, những người theo chủ nghĩa tiêu thụ kinh nghiệm nỗi hụt hẫng và lo sợ. Luôn luôn ham muốn có nhiều hơn, cảm thức toại nguyện của họ chỉ rất tạm bợ và họ khó hài lòng với chính mình. Luôn luôn ở trong nguy cơ đánh mất những gì mình có nhưng mình không làm chủ, một cảm thức về tính khẩn trương và tính vô thường luôn đè nặng họ. Trong tâm trí họ, sự bình an “chấp nhận số phận mình” chỉ xảy ra khi phải cam lòng chào thua trước những giới hạn và thất bại. Có lẽ chính xác hơn phải gọi đây là một “đầu hàng bất đắc dĩ,” một kinh nghiệm hụt hẫng sâu xa, chứ không phải là một hành động chấp nhận tích cực.

Bạn đọc cần lưu ý rằng khi đưa ra những nhận định này về chủ nghĩa tiêu thụ, tôi không hề có ý hoài vọng về một thời “hoàng kim” của xã hội công nghiệp hay nông nghiệp trong đó việc sở hữu đất đai hay sự chia sẻ các phương tiện sản xuất có thể là một dự phòng cho những thời khắc khó khăn. Tôi chỉ muốn nói rằng, trong thực tế, cái cơ cấu kỳ dị của khát vọng về một “cuộc sống tốt đẹp hơn” in đậm chủ nghĩa tiêu thụ đang tạo ra những loại hụt hẫng và bất ổn rất đặc hiệu. Những khát vọng và những nỗi lo sợ như thế cấu kết với nhau một cách rất hữu hiệu để biến nhiều người Mỹ ngày nay thành nô lệ của thời gian, tiền bạc, và nô lệ của hệ thống tiêu thụ. Hậu quả là người ta không còn biết hài lòng và không còn mấy cảm thức tôn giáo nữa.

 

NHÂN ĐỨC:

PHƯƠNG CHỮA TRỊ CHỦ NGHĨA TIÊU THỤ

 

Giáo Hội phải làm gì trước tình hình như thế? Biết bao người đã nhận Phép Rửa trong cái chết và sự Phục Sinh của Đức Kitô, nhưng đang bị dính vào bẫy của “các quyền lực thế gian”, trong khi lẽ ra họ phải đang cảm nếm được sự tự do của con cái Thiên Chúa (x. Gl 4,1-9). Nếu họ nhìn ra và hiểu được nỗi khốn cùng của mình, ắt hẳn họ sẽ bước vào lối bước ân sủng để thoát ra khỏi cơn bế tắc, nhưng lối sống tiêu thụ cuốn chặt họ trong đủ thứ hoạt động và lo toan đến nỗi hầu như không bao giờ họ có thể bất chợt giật mình nghĩ lại và nhận ra Thiên Chúa nữa. Xem ra chẳng có ý nghĩa gì việc khuyên những người ấy dành nhiều thời giờ hơn cho việc cầu nguyện với Chúa, vì việc gắn thêm “Thiên Chúa” và “cầu nguyện” vào núi công việc của họ thì không đủ để vãn hồi lòng đạo đích thực. Người ta cần ý thức rằng mối hiệp thông cá vị với Thiên Chúa phải là nguồn và là chóp đỉnh của đời sống, chứ không thể giảm trừ nó chỉ còn là việc đầu tiên trong danh sách “các việc phải làm.” Để có thể giúp người ta, Giáo Hội cần một cách thế hữu hiệu để đối đầu với lối sống tiêu thụ, một cách thế khả dĩ đưa được Thiên Chúa trở lại vị trí trung tâm của đời sống người ta.

Để tìm ra một cách thế, chúng ta phải nhìn thẳng vào những gốc rễ luân lý của lối sống tiêu thụ. Chủ nghĩa tiêu thụ vận hành bằng cách khơi lên những khát vọng và làm cho người ta không bao giờ cảm thấy thỏa mãn, dẫn người ta tới tâm trạng hụt hẫng và nỗi lo sợ mất mát. Theo một quan điểm nhân học Công Giáo cổ điển (như thấy nơi tư tưởng của Thánh Augustinô và Thánh Tôma Aquinô), có hai loại khao khát căn bản: khao khát thiêng liêng diễn tả trong ý chí, và khao khát xác thịt diễn tả nơi các bản năng và nơi những hưởng ứng liên quan tới sự khoan khoái (nhục dục) và sự chiến đấu (tính bức xúc). Chủ nghĩa tiêu thụ xúi quẩy người ta ước muốn có nhiều hơn những gì mình đã kiếm được, hưởng thụ một cách vô độ các thứ tiện nghi, phản kháng một cách mù quáng sự an phận đối với điều kiện sống thực tế của mình, và sợ hãi một cách vô lý cái viễn ảnh đánh mất điều kiện sống ấy.

Vì thế, nếu chúng ta muốn giúp giải thoát người ta khỏi chủ nghĩa tiêu thụ, trước hết chúng ta phải giúp họ điều chỉnh lại các khát vọng của họ, sao cho họ có thể cảm thấy hài lòng với một mức tương đối trong đời sống thể chất và tinh thần. Theo nhân học Công Giáo, thì đây là việc rèn luyện các nhân đức, nhất là đức công bình (theo đó người ta mong muốn nơi mình và nơi tha nhân những gì hợp lẽ) và đức tiết độ (theo đó người ta hưởng thụ các tiện nghi vật chất một cách vừa phải). Một người công bình và tiết độ thì không thể bị những trò lừa của chủ nghĩa tiêu thụ làm lung lạc ý chí và các dục vọng của mình.

Tuy nhiên, chỉ hai nhân đức trụ cột ấy vẫn chưa đủ. Thần học Công Giáo dạy rằng xét như là một dữ kiện hiện sinh, duy chỉ bằng sức riêng mình thì không ai thành công trọn vẹn trong việc sống các nhân đức. Chúng ta cần ân sủng. Hơn nữa, một người theo chủ nghĩa tiêu thụ cần được giải độc khỏi nỗi hụt hẫng và nỗi lo sợ của mình, vì người ấy không thể bình an cho tới khi có thể cảm nghiệm được sự hài lòng đúng đắn đối với những phương tiện thực sự cần cho đời sống con người. Người ấy rất cần đức Ái và đức Cậy, để nhận ra sự sung mãn đích thực của con người trong tương quan với tha nhân và để có được niềm tin tưởng hướng vọng tương lai. Nơi con người Đức Kitô, chúng ta gặp nguồn ân sủng để ta kín múc được đức Ái và đức Cậy như thế. Thật là ý nghĩa khi Đức Kitô mạc khải rằng yêu thương là hoàn toàn hiến mình cho Thiên Chúa và cho tha nhân, được thực hiện qua việc trút bỏ mọi sự cách triệt để (kenosis). Ngài không giảng rằng sự viên mãn nằm ở “khẳng định chính mình” hay ở “cuộc sống có đầy đủ mọi thứ”, trái lại, Ngài đã trút bỏ chính Ngài cho chúng ta trên Thập Giá. Chỉ qua sự hiệp thông với cái chết và sự Phục Sinh đầy  yêu thương của Đức Kitô chúng ta mới có thể nhận được Thánh Thần và ân sủng để sống một đời sống công bình và tiết độ được làm sống hoạt bởi các nhân đức Tin, Cậy, Mến.

 

KHỔ HẠNH KITÔ GIÁO: LỐI BƯỚC TỰ DO

 

Vì thế, để đương đầu một cách hữu hiệu với lối sống tiêu thụ, Giáo Hội phải đào luyện đời sống nhân đức trong sức mạnh của Thánh Thần Đức Kitô. Cái khó khăn trong việc đào luyện nhân đức nằm ở chỗ các nhân đức không thể đơn thuần được dạy bằng các qui định kiểu “cho toa”. Những loại nhân cách khác nhau và những hoàn cảnh đời sống hằng ngày khác nhau không cho phép chúng ta cung cấp một danh mục chi tiết “những cách thức” để sống các nhân đức. Đành rằng người ta có thể mô tả các nhân đức và chỉ ra chúng khác thế nào so với những điều xấu đối ngược với chúng, nhưng người ta cần các mẫu gương và cần thời gian để thực hành và quen dần với các nhân đức. Và trên hết mọi sự, người ta cần ơn Chúa để tấn tới trên con đường luyện nhân đức. Đây là chỗ mà Giáo Hội đóng một vai trò quyết định: qua việc cung cấp sự chỉ dẫn, cung cấp những mẫu gương sự huấn luyện thường xuyên, và cung cấp ân sủng của Chúa Kitô. Kinh nghiệm dạy ta rằng cộng đoàn có thể là một phương tiện rất hữu hiệu để đào luyện nhân đức, và quả thực Đức Kitô đã thiết lập Giáo Hội đâu nhằm mục đích nào khác hơn là làm cho người ta trở thành môn đệ của Ngài.

Truyền thống Kitô giáo cung cấp cho chúng ta những lối sống đặc biệt thúc đẩy đức công bình và tiết độ, vốn cần thiết để vượt qua các khát vọng lệch lạc gây ra bởi chủ nghĩa tiêu thụ, và đồng thời nuôi dưỡng đức Ái và đức Cậy, vốn cần thiết để chữa lành các vết thương của chủ nghĩa này. Những lối sống ấy chính là những kỷ luật thiêng liêng bao gồm sự thực hành khổ hạnh Kitô giáo, với rất nhiều phương thức cụ thể mà qua đó các Kitô hữu trải bao thế kỷ sống đời sống mới của mình trong Đức Kitô. Tôi muốn nêu ra ba thực hành hiệu nghiệm cách riêng trong việc đương đầu với những sự dữ của chủ nghĩa tiêu thụ, đó là: sống đời sám hối, giữ ngày của Chúa, và dâng cúng.

Thực hành sám hối là một phương thế đầy năng lực chuyển hóa, bởi vì đó là cách thể hiện tình yêu mà Chúa ban cho mọi Kitô hữu đã được tái sinh trong cái chết và sự Phục Sinh của Đức Kitô. Được kết hiệp với Đức Kitô nhờ tình yêu này và được đầy tràn Chúa Thánh Thần, người Kitô hữu có thể bước theo Đức Kitô trong tình yêu “hủy mình ra không” đến mức trao hiến mạng sống làm hy lễ cho Thiên Chúa và nên ơn ích cho con người. Theo truyền thống, sự “hủy mình ra không” này của người Kitô hữu được hiểu như một cuộc hoán cải không ngừng (metanoia) bao gồm ba hành động: ăn chay (hay tiết chế), cầu nguyện, và bố thí (làm phúc). Trong đời sống sám hối này, người Kitô hữu muốn đáp trả lại tình yêu Thiên Chúa bằng cách bắt chước tình yêu “hủy mình ra không” của Đức Kitô trong đời thường của mình. Với thực hành tiết chế, người Kitô hữu xa tránh những khát vọng vô bổ nơi ý chí và xác thịt mình, và sống thuận theo thánh ý Chúa cho cuộc đời mình. Qua việc cầu nguyện, người Kitô hữu tìm kiếm sự hiệp thông sâu xa hơn với Thiên Chúa, và tìm kiếm ân sủng để kiên trung bước đi trên con đường hẹp của tình yêu. Qua việc bố thí, người Kitô hữu không chỉ chia sẻ của cải vật chất với người khác mà còn chia sẻ chính bản thân mình nữa.

Giáo Hội đào tạo các môn đệ Đức Kitô phần lớn bằng việc giảng dạy, nêu gương, bồi dưỡng, và tổ chức đời sống sám hối của cộng đoàn. Một đời sống như vậy tự bản chất sẽ kéo người Kitô hữu ra khỏi việc theo đuổi một “đời sống tiêu chuẩn cao” đầy ích kỷ, để hướng đến một tình yêu vô vụ lợi đối với Thiên Chúa và tha nhân. Bằng cách đề xuất những thực hành đặc biệt qua đó toàn thể cộng đoàn cùng khổ chế, cầu nguyện và làm việc phúc đức, Giáo Hội có thể thúc đẩy một công cuộc thánh thiện đích thực có sức giải phóng các thành viên mình khỏi sự cột trói của chủ nghĩa tiêu thụ. Các Kitô hữu đến lượt mình sẽ làm cho xã hội mà mình sống có tính nhân văn hơn, nhất là qua việc đưa đức Ái và đức Cậy vào một thế giới đã sa ngã. Một Kitô giáo như thế không phải là thuốc phiện cũng chẳng phải là tạo loạn; đó là một chứng tá đầy chất ngôn sứ phát tỏa từ Giáo Hội, có năng lực chuyển hóa chính con cái Giáo Hội và toàn thế giới.

Ta hãy xem xét việc giữ ngày Chúa Nhật. Trong một nền văn hóa vốn nặng tính hoạt động và tiêu thụ, chúng ta dành ngày Chúa Nhật cho Thiên Chúa và cho tha nhân, đó là thời gian để nghỉ ngơi, để sống các mối tương quan liên vị và để thưởng ngoạn các hoa trái của trái đất. Nhịp hoạt động căng thẳng của công việc được ngưng lại để ta có thời gian dành cho bao giá trị khác mà Chúa ban cho đời sống. Việc nghỉ ngày Chúa Nhật có thể là một kinh nghiệm sống động về “kairos” tức “thời gian viên mãn”, thay vì là một “chronos” tức thời gian được đo lường, được tiêu pha, hay được “giết”. Thời gian của ngày Chúa Nhật chỉ đạt được ý nghĩa khi chúng ta chấp nhận trả giá – đó là, chúng ta “cứu độ” thời gian này bằng cách không dùng nó cho việc tranh thủ vật chất, cho lao động cật lực, hay cho những theo đuổi nhiễm nặng tính tiêu thụ. Trong hoàn cảnh của chúng ta hiện nay, điều này có nghĩa là toàn bộ tuần lễ phải được tổ chức xung quanh trung tâm là ngày Chúa Nhật. Khi chúng ta điều chỉnh các hoạt động mỗi ngày theo hướng tạo điều kiện để đề cao ngày Chúa Nhật, thì ngày của Chúa sẽ trở thành trung tâm chi phối cách sắp xếp thời gian cho cả tuần lễ. Ngay cả trong trường hợp một Kitô hữu phải làm việc trong ngày Chúa Nhật, người ấy vẫn có thể thể hiện ý thức về ngày của Chúa bằng một hình thức thờ phượng đặc biệt nào đó, và dành một ngày khác trong tuần để thực hành việc nghỉ lễ. Với việc giữ ngày Chúa Nhật, một giới hạn hữu hiệu sẽ được lập ra cho công việc làm ăn, và chúng ta sẽ có cơ hội để chăm lo cho các mối tương quan với Thiên Chúa và với tha nhân.

Thực hành dâng cúng cũng có một hiệu quả tương tự việc giữ ngày Chúa Nhật. Để dâng cúng 10% cho công việc của Chúa, chúng ta không thể chi tiêu tất cả cho chính mình. Và để có được 10% trong một ngân sách vốn quen đầy ắp những món phải chi tiêu, chúng ta phải thay đổi toàn bộ cách sống. Ngân sách chi tiêu hằng tháng cần phải được hoạch định có tính tới việc dâng cúng. Như vậy, một giới hạn chi tiêu sẽ được thiết lập qua việc ưu tiên trao về Thiên Chúa điều thuộc về Ngài. Thực hành này sẽ tạo điều kiện cho chúng ta học biết rằng thu nhập của mình không phải chỉ dành để chi tiêu cho riêng mình, mà phải cân nhắc việc chi tiêu từng xu trước mặt Chúa.

Trong giáo xứ tôi, các gia đình thực hành hai bước cụ thể là giữ ngày Chúa Nhật và thực hành dâng cúng đã phản hồi rằng hiệu quả cách chung là có sự thay đổi tích cực trong đời sống gia đình của họ cũng như trong cách họ nhận hiểu về thời gian và tiền bạc. Việc dành một ngày trong tuần và dành 10% thu nhập dạy họ rằng toàn bộ thời gian và tiền bạc của họ thuộc về Thiên Chúa. Để có thể giữ ngày Chúa Nhật và thực hành dâng cúng, họ phải không ngừng tự nhắc mình rằng mọi hoạt động và chi tiêu phải được soi sáng bởi điều mà Chúa mời gọi họ trong tuần lễ ấy. Họ học biết rằng có một số việc không nên làm, một số món hàng không nên mua, nhưng vậy là tốt, vì quĩ thời gian và tiền bạc giới hạn phải được sử dụng theo ý Chúa. Nói tóm lại, họ bắt đầu phát triển một cảm thức về Chúa Quan Phòng. Họ kinh nghiệm rằng cuộc sống của họ nằm trong bày tay Thiên Chúa, chứ không phải trong tay của thời vận, và rằng họ không cần phải đạt cho được tất cả những gì mình có thể đạt, mà chỉ cần đạt được điều Chúa muốn thôi. Đây là kinh nghiệm của đức Ái và đức Cậy. Họ học biết cách hài lòng với những gì mình có xuyên qua việc tìm kiếm thánh ý Chúa khi họ kiếm tìm và sử dụng của cải mà Chúa ban cho. Họ có thể hướng nhìn tương lai với ít lo lắng hơn, bởi vì họ đã bắt đầu biết sống trong niềm tín thác vào Chúa Quan Phòng. Điều này tạo ra không chỉ một loại cảm nghiệm hài lòng hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa tiêu thụ, mà còn giúp người ta có được sự ổn định kinh tế tối thiểu mà chủ nghĩa tiêu thụ không thể đem lại cho họ. Hài lòng với số thu nhập ít hơn, điều đó có nghĩa là người ta có khả năng tiết kiệm một phần thu nhập của mình để dự phòng cho tương lai, qua hình thức sở hữu và làm chủ thực sự.

 

KẾT LUẬN

 

Tôi từng chứng nghiệm những ích lợi thực sự, về vật chất và thiêng liêng, đạt được bởi các gia đình thực hành con đường khổ hạnh này để giải thoát mình khỏi chủ nghĩa tiêu thụ. Đây là một con đường không dễ bước đi, và trong kinh nghiệm của tôi, người ta chỉ có thể bước đi được nếu họ chấp nhận giữ ngày Chúa Nhật, chấp nhận dâng cúng, và chấp nhận sống đời sám hối. Các gia đình ấy đã dạy tôi rằng bằng cách tạo ra một môi trường khuyến khích thực hành khổ hạnh, Giáo Hội có thể cung ứng rất nhiều sự nâng đỡ cần thiết và cung ứng tầm nhìn cho những ai bị kẹt trong chủ nghĩa tiêu thụ. Rất nhiều anh chị em trong đàn chiên Chúa muốn vượt thoát; chỉ có điều là họ không có khả năng nhận hiểu vấn đề hay xác lập một giải pháp cho chính họ.

Điều kỳ diệu về những thực hành khổ hạnh này, đó là ngay cả dù không hoàn toàn hiểu chúng, người ta vẫn có thể thực hành chúng và nhận được kết quả do chúng mang lại. Giống như những đức tính tốt mà cha mẹ chúng ta giúp chúng ta tập tành thuở nhỏ, chúng hữu ích cho ta ngay cả trước khi ta hoàn toàn nhận hiểu và trân trọng chúng. Những thực hành khổ hạnh sẽ chống lại chủ nghĩa tiêu thụ tận trong gốc rễ của nó, tức chống lại dục vọng và nỗi sợ hãi mà chủ nghĩa tiêu thụ tạo ra. Những thực hành ấy thúc đẩy người ta đánh giá lại mục đích của cuộc sống mình, của việc sử dụng thời gian và tiền bạc. Khi được đảm nhận dù chỉ với một chút thiện chí muốn đáp lại ân sủng Chúa, khổ hạnh sẽ đem lại những hoa quả không ngờ. Cũng giống như việc Đức Kitô hủy mình ra không cho đến cái chết trên Thập Giá, khổ hạnh là một cớ vấp phạm và là sự điên rồ đối với thế gian. Nhưng cho những ai tin, thì đó là sức mạnh và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa đem lại năng lực biến đổi thế giới này. 

 

 

THIÊN PHONG

dịch từ “Christian Asceticism: Breaking Consumerism’s Destructive Hold”

của  Fr. Timothy V. Vaverek, trong Houston Catholic Worker, Vol. 21, No. 1, January 2001.

 

 

 

 

Về đầu trang

Những bài khác:
 
Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri

5 phút/ngày cho Lời Chúa 

<<Tháng 5 Năm 2012>>
HaiBaNămSáuBảyCN
 
1
 
2
 
3
 
4
 
5
 
6
 
7
 
8
 
9
 
10
 
11
 
12
 
13
 
14
 
15
 
16
 
17
 
18
 
19
 
20
 
21
 
22
 
23
 
24
 
25
 
26
 
27
 
28
 
29
 
30
 
31
 
   


Trung Tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu

 



Bác Ái Xã Hội - Caritas Đà Nẵng



Quỹ Giáo Dục Phạm Ngọc Chi

 

 



Chương Trình Căn Nhà Đồng Tâm

 



Nối Kết

Tòa Thánh Vatican

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

Uỷ Ban Mục Vụ Gia Đình 

Ủy Ban BAXH - Caritas VN

Ủy Ban Kinh Thánh

Ủy Ban Mục Vụ Di Dân

Uỷ Ban Truyền Thông Xã Hội

Tổng Giáo Phận Hà Nội

Tổng Giáo Phận Huế

Tổng Giáo Phận TP.HCM

Giáo Phận Lạng Sơn

Giáo Phận Hải Phòng

Giáo Phận Thái Bình

Giáo Phận Thanh Hóa

Giáo Phận Vinh

Giáo Phận Nha Trang

Giáo Phận Mỹ Tho

Giáo Phận Đà Lạt

Giáo Phận Vĩnh Long

Giáo Phận Ban Mê Thuột

Giáo Phận Phú Cường

Giáo Phận Phan Thiết

Giáo Phận Long Xuyên




© 2009 Tòa Giám Mục Đà Nẵng
Địa chỉ: 156 Trần Phú - Tp Đà Nẵng
Số Điện Thoại : 0511.3826628 Fax: 0511.3871856
Email: admin@giaophandanang.org
Được thiết kế và phát triển bởi nhóm thiết kế Website TGM Đà Nẵng Trang Trí Nội Thất Mộc Thịnh