LƯỢC SỬ GIÁO XỨ HOẰNG PHƯỚC
Nhà thờ Hoằng Phước tọa lạc trên một ngọn đồi, dựa lưng vào núi, hướng nhìn dòng sông Vu Gia ngày đêm lưu chuyển cung cấp nước cho thành phố Đà Nẵng. Từ trung tâm thành phố Đà Nẵng, Hoằng Phước nằm về phía tây nam chừng 40 km. Nếu đi dọc quốc lộ 14B, đến đoạn xã Đại Hiệp, sẽ gặp đường Xuyên Á, qua cầu mới thay cầu phao Hà Nha ngày nào bắt qua sông Vu Gia để lên đường Trường Sơn, sẽ nhìn thấy nhà nhờ Hoằng Phước bên tay trái. Giáo xứ Hoằng Phước thuộc xã Đại Hồng huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Hoằng Phước là một trong 4 giáo xứ nằm dọc theo nhánh sông Vu Gia, là giáo xứ kỳ cựu nhất trong khu vực này.
1. Hình thành:
Theo bản báo cáo của Hội Thừa Sai, Hoằng Phước là một trong 4 họ đạo của Trà Kiệu, được Cha Jean-Baptiste Bruyère (Cố Nhơn) thành lập. Chỉ có Hoằng Phước cách xa Trà Kiệu ngăn sống cách đò, còn 3 họ đạo kia ở gần giáo xứ mẹ Trà Kiệu là La Tháp, Mỹ Sơn và Lệ Bắc. Giao thông đi lại lúc này bằng đường thủy là chủ yếu, dọc theo con sông lớn Vu Gia. Hoằng Phước nằm gần mỏ than Ngọc kinh, trong thung lũng vùng sông Côn của dãy núi Trường Sơn. Năm 1898, Hoằng Phước có khoảng 150 tân tòng và 100 dự tòng. Nhà thờ Hoằng Phước ban đầu là một ngôi nhà mua lại của một người dân tại Ấp Trung (Vĩnh Phước), dùng làm nơi tụ họp kinh lễ của các tín hữu đầu tiên.
Năm 1894, đời Thành Thái tứ niên, thân hào nhân sĩ làng Hoằng Phước đã man khai ruộng đất trên bảy mẫu rưỡi, lại còn chứa chấp một số dân lậu không trước tịch. Sự việc đã bị phát giác, chiếu theo luật Gia Long thời đó, 6 ông lý hào hàng đầu bị xử trượng bãi dịch. Các hương chức làng Hoằng Phước lâm cảnh nguy khốn. Trong hoàn cảnh này, Thiên Chúa lại an bài. Ông Võ Phiến, là người công giáo, ông ngoại của linh mục Phêrô Lê Như Hảo, với chức Quản Nam Trân, hằng năm đến Hội Khách, thanh sát việc thu hái trái loòng boong, đưa về Kinh đô Huế, tiến dâng vua Nguyễn, để ghi nhớ ngày Thế tổ Gia Long cùng tướng sĩ đã nhờ ăn trái loòng boong vùng núi rừng này mà sống trong những ngày chạy trốn Tây Sơn. Chính ông Võ Phiến đưa các hương chức làng Hoằng Phước về Trà Kiệu cầu cứu Cố Nhơn, mặc khác lại can thiệp với chính quyền thu xếp hồ sơ vụ án. Kết quả là sau một năm giam cứu, các ông đã được tha bỗng. Nhớ ơn sâu nghĩa nặng, 6 thân hào hương chức này là các Ông Lê Hiến, tức xã Hiến, Nguyên Khôi tức Tri Tuy, Lê Hải tức Hương Luận, Nguyên Hảo tức Trùm Tân, Nguyên Thừa tức Trương Cần và Nguyễn Nghiêm tức Trùm Một, đã tức tốc làm đơn xin tòng giáo.
Sau khi nhận được những lời thỉnh cầu của các hương chức, Cố Nhơn đã gửi các giảng viên về dạy giáo lý cho 6 tân tòng đầu đàn này và một số gia đình trong năm 1896. Vào năm 1897, các dự tòng này đã được Cha Micae Hồ Ngọc Thanh, phó xứ Trà Kiệu dưới thời Cố Nhơn trao ban Bí tích Rửa tội. Và thời Thành Thái năm thứ nhất, Hội đồng xã Hoằng Phước trích hai mẫu đất tân trưng, nhường lại cho Giáo hội bán lấy tiền để kiến thiết nhà thờ, nhưng Cố Nhơn đã không bán mà giữ lại canh tác thu hoa lợi để dùng vào việc sinh hoạt chung.
Với trận lụt Bất Quá, nước lũ đã cuốn trôi cả một dãi đất rộng, người dân không còn nơi cư ngụ, không còn đất canh tác. Một lần nữa, Cố Nhơn can thiệp với chính quyền, để xin khai khẩn vùng đất Cam Lâm, đưa dân về sinh sống. Và từ đó, nhà thờ cũ Hoằng Phước dời về nơi đây. Với sự nỗ lực của những tín hữu trong những ngày đầy gian khó, ngôi nhà thờ 5 gian, hai hè được hoàn thành vào năm 1903. Những năm tháng đầu tiên này, ngoài sự hỗ trợ của Cố Nhơn, chính Cha Micae Hồ Ngọc Thanh đảm trách chăm sóc đoàn chiên nơi đây.
2. Các thời kỳ:
Ngoài Cố Nhơn trong những ngày khai lập xứ, Hoằng Phước còn có cố Bạch (1903 - 1905) coi sóc. Tiếp đến, Cha Nguyễn Toàn Thung phụ trách họ đạo Hoằng Phước này.
Sau một thời gian, họ đạo Hoằng Phước từ một nhóm giáo dân nhỏ, đã trở thành một họ đạo đông đúc. Hơn nữa, việc đi lại khó khăn cách trở, nên vào năm 1918, Giáo quyền đã tách Hoằng Phước ra khỏi xứ Trà Kiệu và thành lập tân Giáo xứ, dưới sự coi sóc của linh mục tiên khởi Phêrô Nguyễn Ninh. Lúc này Giáo xứ Hoằng Phước đã có thêm các họ đạo như Trước Hà, Hà Tây, Tịnh Đông, Đồng Chàm. Cha Phêrô Ninh đã chăm sóc đoàn chiên Hoằng Phước mãi cho đến năm 1934.
Từ năm 1934 – 1941, Cha Matthêu Trịnh Hoài Đạt làm quản xứ. Lúc này, Giáo xứ có thêm họ đạo mới Long Thú. Số giáo dân đã lên đông, nhà thờ không đủ chỗ để tham dự thánh lễ, vì thế Cha Matthêu đã cùng với giáo xứ nới rộng ngôi nhà thờ, cũng như sửa sang lại mặt tiền nhà thờ khang trang hơn.
Từ 1941 – 1949: cha Micae Bùi Công Bá làm quản xứ một thời gian, bị bệnh và qua đời tại Giáo xứ. Đúng lúc chiến tranh xảy ra ác liệt, nên Giáo xứ vắng bóng chủ chăn một thời gian dài.
Sau khi hiệp định Genève được ký kết vào năm 1954, Cha Gioakim Nguyễn Du về chăm sóc đoàn chiên Hoằng Phước, chỉnh đốn lại giáo xứ sau những ngày bon đạm. Mọi sự ngỗn ngang dần đi vào nề nếp, từ cơ sở vật chất, đến đời sống thiêng liêng của đoàn chiên. Ngài cũng thành lập thêm hai họ đạo mới là Cam Lâm và Hòa Hữu.
Năm 1956, Cha Giuse Nguyễn Hữu Ngợi làm quản xứ. Lúc này giáo dân Hoằng Phước lên đến 5000. Vì số giáo dân lên đông, nên lúc này phải chia cắt để hình thành giáo xứ mới Hà Tân, với linh mục tiên khởi là Cha Giuse Lê Văn Ly. Một biến cố đáng buồn cho giáo xứ Hoằng Phước, Cha sở Giuse Ngợi đang hăng say hoạt động, chăm sóc chu đáo từng con chiên, thì Ngài bị sát hại trên đường đi làm mục vụ cho bổn đạo, để lại đàn chiên bơ vơ …
Mãi đến năm 1963, Cha Giacôbê Nguyễn Thành Tri được sai về đảm trách giáo xứ. Ngôi nhà thờ lúc này dù được tu sữa nhiều lần, nhưng cũng bị xuống cấp trầm trọng vì thời gian và thiên tai, khí hậu ẩm thấp. Vì thế, Cha Giacôbê cùng giáo xứ quyết tâm cho khởi công xây dựng ngôi nhà Chúa bằng bê tông cốt thép kiên cố và rộng rãi. Nhưng nhà thờ xây dựng vừa xong, chưa sử dụng được bao lâu, thì chiến tranh lại nổi lên mỗi ngày khốc liệt hơn, làm đàn chiên tan tác. Tình thế nguy hiểm, Cha sở cùng con chiên phải chạy về Cẩm Hà, Hội An để lánh nạn. Một số khác đi xa hơn, định cư mãi tận Hòa Khánh. Nhà thờ mới Hoằng Phước lại bị làm mồi cho bom đạn, hư hại nặng nề. Giáo xứ Hoằng Phước giờ đây trở lại thành một “vùng trắng”, không có giáo dân, không sinh hoạt. Số phận của các ngôi nhà thờ họ cũng chung số phận với ngôi nhà thờ Giáo xứ.
Mùa xuân 1975, chiến tranh kết thúc. Giáo dân Hoằng Phước tản cư các nơi bắt đầu trở lại quê hương xây dựng lại cuộc sống. Lúc này, ngôi nhà thờ Giáo xứ chỉ còn nền đá đổ nát. Giáo dân khoảng 300 người. Nhà thờ không còn, mỗi tối, giáo dân lại tập trung lại với nhau ở một ngôi nhà gần nền nhà thờ đổ nát để đọc kinh cầu nguyện. Thời gian này, Cha Phaolô Nguyễn Văn Thái, quản xứ Hà Tân, kiêm nhiệm Hoằng Phước, lên xuống ban bí tích cho đoàn chiên Hoằng Phước. Thế nhưng, chỉ được một thời gian ngắn, Cha Phaolô bị chính quyền bắt đi cải tạo không hẹn ngày về. Hà Tân và Hoằng Phước phải thiếu vắng chủ chăn trong thời gian khó khăn sau cuộc chiến.
Năm 1986, chính sách mở cửa của nhà nước, đời sống tôn giáo dần được cải thiện, việc thuyên chuyển các linh mục trong giáo phận trở nên “dễ thở” hơn. Vì thế, vào năm 1988, sau 9 năm mồ côi, Giáo xứ Hà Tân và đàn chiên Hoằng Phước hân hoan đón mừng Cha Vinh-sơn Hoàng Quang Hải về làm quản xứ. Lúc này, ước mơ xây dựng lại ngôi Nhà Chúa được khơi dậy. Trong khi chờ đợi, giáo dân Hoằng Phước lại lên Hà Tân, xuống Phú Hương để tham thánh lễ hằng tuần. Sinh hoạt của giáo xứ có phần linh hoạt dù không có nhà thờ, số giáo dân cũng bắt đầu đông lên, lúc này giáo dân đã lên đến khoảng 600 người. Thời gian cha Vinh Sơn coi sóc, dù chưa thuận cho việc xây dựng nhà thờ, nhưng đời sống thiêng liêng được củng cố đáng kể. Đức tin giáo dân lúc này trở nên vững vàng rất nhiều.
Năm 1992, Cha Giuse Nguyễn Văn Thú về thay cha Vinh Sơn. Việc đầu tiên ngài phải làm là xúc tiến thủ tục xây dựng lại nhà thờ Hoằng Phước sau khi bị tàn phá trong chiến tranh. Sau một thời gian thương thảo với chính quyền địa phương, nhà thờ mới không được xây lại trên nền nhà thờ cũ, mà phải di chuyển về một ngọn đồi ven núi, trên bờ sông Vu Gia. Chỉ vài năm sau, đường Xuyên Á phát triển, một chiếc cầu mới bắt qua dòng sông Vu Gia nối liến hai bờ, ngôi nhà thờ trong hẽm núi chường mặt nhìn con đường tráng nhựa xinh đẹp chạy ngang trước mặt. Thật là ý Chúa nhiệm mầu. Với sự đóng góp nhiệt tình của bà con giáo dân, cũng như những nhà hảo tâm, ngôi nhà thờ được hoàn thành vào tháng 4 năm 1996, sau bao nhiêu năm tháng mong ước. Xin tạ ơn Chúa, xin cảm ơn người!
Ngoài việc xây dựng nhà thờ để có nơi thờ phượng Chúa, Cha Giuse còn đẩy mạnh xây dựng con người Hoằng Phước. Đàn chiên mỗi ngày một lớn mạnh, vững vàng trong đức tin, sống chứng nhân cho Chúa giữa dòng đời.
Năm 2001, Cha Giacôbê Hứa Hùng Quang, ngay sau khi chịu chức linh mục, đã được bổ nhiệm về nhận xứ Hà Tân kiêm Hoằng Phước. Lòng nhiệt thành của tuổi trẻ đã giúp Ngài vượt qua nhiều gian khó để tiếp tục củng cố và phát triển xứ đạo, tiếp tục công việc của các vị tiền nhiệm. Thời gian này, Cha Giuse Ngô Tấn Lực, thuộc dòng Chúa Cứu Thế, người con của vùng đất này, đã được Bề trên dòng cho về phục vụ quê hương, ở với gia đình Ông Bà Cố tại giáo xứ Ô-Gia cũ, một tay tiếp sức cho Cha sở Hà Tân chăm lo cho Hoằng Phước.
Những tháng cuối năm 2005, Cha Giacôbê Hứa Hùng Quang được chuyển về Ái Nghĩa. Thay Ngài tại Hà Tân – Hoằng Phước là Cha Phaolô Ngô Tấn Thu, từ Giáo xứ Tam Kỳ chuyển về. Cũng trong thời gian này, Ngày 09 tháng 12 năm 2005, Thầy Phó tế Phipphiphe Lê Văn Vui, thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, quê Ái Nghĩa được thụ phong linh mục. Đức Cha Phaolô Tịnh đã quyết định tái lập Giáo xứ Hoằng Phước tách rời khỏi Hà Tân, đồng thời bổ nhiệm Cha mới Phipphiphe Lê Văn Vui làm quản xứ, và Cha Giuse Ngô Tấn Lực làm phó xứ.
Sau 40 năm mong đợi, nay Giáo xứ Hoằng Phước đã được hồi sinh với niềm vui khôn tả. Đêm Giáng sinh năm 2005, một Thánh lễ được cử hành cách long trọng như chưa từng có được quý Cha tân quản xứ và phó xứ cử hành, như khai mở một thời kỳ mới cho Hoằng Phước. Những tháng ngày gian khổ đã qua, đa số tín hữu vẫn trung kiên giữ vững đức tin. Tuy nhiên, cũng có những con chiên xa đàn lạc lối, xa nhà thờ, xa Giáo hội vì nhiều hoàn cảnh khác nhau. Công việc của hai cha thật tất bật, nhất là khơi dậy đức tin cho những con chiên lạc đàn, bằng cách thăm viếng, mời gọi và hợp thức hóa hôn phối cho khá nhiều gia đình. Một thời gian sau, nhiều tín hữu đã trở về với Giáo Hội, đoàn chiên lại gia tăng đáng kể.
Sinh hoạt của giáo xứ lúc này trở nên nhộn nhịp, các dịp lễ lớn trong năm đều được tổ chức trọng thể, giáo dân tham gia đông đức. Với sức trẻ, linh hoạt, đầy nhiệt tâm, Quý Cha đã qui tụ được giới thiếu nhi và hình thành những lớp giáo lý mỗi ngày Chúa Nhật với Thánh lễ dành riêng. Các ban ngành đoàn thể củng được gầy dựng và phát triển mỗi ngày. Đoàn Thiếu nhi Thánh Thể cho giới thiếu nhi đã được thành lập rất sớm. Bầu khí xứ đạo sống động hẵn lên.
Ngoài việc đào tạo và xây dựng con người, Quý Cha đã chỉnh sang lại khuôn viên nhà thờ, xây dựng phòng đọc sách Giê-ra-đô, kiến tạo mặt bằng, xây dựng tường rào. Điều đáng nói, Giáo xứ sau khi hồi sinh, chỉ xây dựng được ngôi nhà thờ kiên cố, các cơ sở khác rất tạm bợ, ngay cả các Cha cũng sống tạm trên gác lửng phòng áo. Tất cả chờ đợi cho một sự sắp xếp mới về bản đồ mục vụ truyền giáo hướng về tương lai.
Chương trình mục vụ truyền giáo của Giáo phận lúc này được phác họa cụ thể hơn, các dòng tu nam được mời về cộng tác và phân chia vùng lãnh thổ hoạt động về hướng tây Giáo phận. Các Cha Dòng Chúa Cứu Thế phụ trách phần cực tây nam của Giáo phận, trụ sở đặt tại Giáo xứ Tiên Phước. Vì thế, các Cha dòng Chúa Cứu Thế lại chuẩn bị lên đường. Tháng 8 năm 2009, Cha Phipphiphe Lê Văn Vui về nhận Giáo xứ Tiên Phước, với sự hiện diện của Cha Bề trên Giám Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Phạm Trung Thành, để ký với Bản quyền Giáo phận Đà Nẵng một hợp đồng mục vụ 20 năm. Cha Giuse Ngô Tấn Lực tạm ở lại quản nhiệm Giáo xứ Hoằng Phước trong khi chờ đợi sự bổ nhiệm một cha quản xứ mới. Sau bao nhiêu năm sống và làm việc tại địa bàn Giáo xứ Hoằng Phước, Cha Giuse đã quen thuộc với từng con chiên, biết từng hoàn cảnh của mỗi người, nên công việc mục vụ của Cha cũng được tiếp tục dễ dàng.
Được chuẩn bị từ thời Cha Phipphiphe Lê Văn Vui, nay Cha Giuse Ngô Tấn Lực theo ý Tòa Giám mục đã bắt tay xây dựng nhà xứ, và công trình nay sắp hoàn thành. Cũng không thể không nhắc đến sự hồi sinh của Giáo xứ Ô-Gia ngày xưa, trong chiến tranh đã bị xóa sổ. Được về phụng dưỡng cha mẹ già, Cha Giuse Ngô Tấn Lực đã xây dựng thêm nhà cửa, và dung phòng khách làm nơi tụ họp kinh lễ cho giáo dân trong vùng. Hy vọng trong tương lai, cộng đoàn Ô Gia ngày xưa lịa được hồi sinh
3. Hiện tình giáo xứ:
Hiện nay Giáo xứ gồm có 270 gia đình với 951 nhân khẩu. Đa số sống nghề nông với ruộng đất mỗi ngày một thu hẹp. Đời sống người dân nơi đây còn nhiều vất vả, một phần vì những lũ lụt hầu như xảy ra hằng năm tàn phá mùa màng, giết hại gia súc. Đa số người trẻ phải kiếm sống phương xa.
Không thể không nhắc đến sự trổi dậy của một cộng đoàn mới thuộc địa bàn mục vụ của Giáo xứ Hoằng Phước, đó là cộng đoàn Thạnh Mỹ, thủ phủ của huyện Nam Giang, nằm trên trục lộ Đường Hồ Chí Minh. Từ những năm đầu của đầu thế kỷ mới, các Cha Quản xứ Hoàng Phước-Hà Tân đã đặt chân đến nơi này thăm viếng và qui tụ cộng đoàn, dâng Thánh Lễ vào những dịp đặc biệt. Giáo dân nơi đây có nguồn gốc rất đa dạng, đa số thuộc các tỉnh miền Bắc vào làm ăn sinh sống theo lối bán gia cư. Trong những năm kế tiếp và cho đến bây giờ, được sự quan tâm của Đức Cha Phaolô Tịnh, cộng đoàn mỗi ngày lớn mạnh hơn. Trong dịp lễ Giáng Sinh vừa qua, Đức Cha Giuse và một số cha đã về thăm viếng và dâng Thánh Lễ tại Thạnh Mỹ, con số giáo dân tham dự ước tính đến trên ba trăm người.
Hiện nay, theo sự sắp xếp của Đức Cha Giuse, các Cha Quản xứ Hoằng Phước, Hà Tân, Phú Hương và Ái Nghĩa thay nhau dâng Thánh Lễ hằng tuần tại Thạnh Mỹ, nhưng trách nhiệm chính thuộc về Giáo xứ Hoằng Phước. Sự sinh động của Thạnh Mỹ hiện nay khơi lên niềm hy vọng cho công cuộc truyền giáo tại các huyện trắng phía tây Giáo phận, để người dân nơi đây được tiếp cận với Tin Mừng.
Hoằng Phước mỗi ngày một đổi thay, nhưng không bao giờ quên được lịch sử truyền giáo rất hãnh diện nơi quê hương mình.
Hoằng Phước
Mùa Hành Hương Năm Thánh 2010
Chúa Nhật 25/4/2010
|