BÀI PHÁT BIỂU
CỦA ĐỨC ÔNG CHỦ TỊCH CARITAS ĐỨC
TRONG DỊP TĨNH HUẤN VÀ LỄ RA MẮT CARITAS ĐÀ NẴNG
(Đà Nẵng 14-15/6/ 2010)
.jpg)
Anh chị em thân mến.
Hôm nay anh chị em quy tụ nơi đây để cùng nhau thảo luận về tầm nhìn và sứ mạng của Caritas và để được Chúa Thánh Thần thúc đẩy qua cuộc gặp gỡ và huấn luyện Caritas của anh chị em. Tôi rất lấy làm phấn khởi khi gặp gỡ nhiều người trên thế giới háo hức lắng nghe thông điệp tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta và họ thấy cần phải tích cực yêu thương anh em. Mỗi năm một lần tôi đi thăm tổ chức Caritas của các nước thành viên và trong mỗi dịp đó tôi rất cảm động khi được biết tình yêu của Thiên Chúa đã thúc đẩy và hổ trợ người ta tham gia hoạt động của Caritas khắp hoàn vũ. Cũng vậy, tại nơi này ở Việt nam, trong dịp lưu lại ngắn ngày hôm nay, tôi cũng đã cảm nhận được tinh thần phổ biến ấy ở nơi anh chị em. Tôi xin vắn tắt trao đổi cùng anh chị em về quá trình làm việc với Caritas của bản thân tôi. .
I.-QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA TÔI VỚI CARITAS
Tôi đã từng làm linh mục tuyên úy và sau đó là cha quản xứ tại giáo phận Augsburg ở miền Nam nước Đức, ở gần Munich và Freising là giáo phận quê hương của Đức Thánh Cha. Trong thời gian này, tôi có kinh nghiệm về các vấn đề xã hội. Tôi rất cảm động khi được biết một số trẻ em là người duy nhất trong nhà mỗi sáng sau khi ngủ dậy phải ra khỏi nhà để đi đến trường học hoặc nhà trẻ. Thường cha mẹ của các em không có việc làm và bản thân họ cũng như con cái họ đều không có tương lai vì họ thường thất nghiệp dài ngày hoặc là bị đau ốm. Tôi cũng đã chứng kiến cảnh hiu quạnh và cô độc của những người già cả neo đơn.
Trong nhiều năm tôi là tuyên úy bệnh viện và ở gần bệnh nhân ở chặng cuối cuộc đời trong cơn hấp hối. Tôi cảm kích chứng kiến bao nhiêu hệ quả tốt lành khi người giáo dân cùng một xứ hay cộng đồng, những tình nguyện viên, và hội viên Caritas địa phương biết hỗ trợ và đối thoại với những người đau khổ hoặc lâm cảnh cùng khốn . Suốt đời, tôi luôn ái mộ đức tin người Kitô hữu đã cho ta biết ta được Thiên Chúa chấp nhận và yêu thương không điều kiện vì thế ta có thể mến Chúa và yêu thương nhau. Tôi đã được yêu thương và được giúp đỡ, nên tôi cũng phải giúp đỡ người khác.
Trong những năm gần đây, tôi đã phụ trách công tác đào tạo các linh mục thuộc giáo phận Augsburg. Môi trường đó làm cho tôi thấy điều quan trọng là phải làm cho các linh mục trẻ hiểu được rằng Caritas là trách nhiệm cơ bản của Giáo hội. Sau đó tôi đã được đề cử làm Giám đốc Caritas của giáo phận Augsburg, rồi trong bảy năm gần đây tôi được cử làm Chủ Tịch Caritas Đức. Niềm say mến của tôi đối với tình yêu của Thiên Chúa và nhân loại thì chưa bao giờ bị gián đoạn.
2.-CARITAS VÀ NGUỒN GỐC THẦN HỌC
Công việc của Caritas có đặc tính cơ bản của Giáo hội và bắt nguồn sâu xa từ gương sáng của Chúa Giêsu. Điều này đã rất rõ ràng việc chữa bệnh của Chúa Giêsu.
Những ai đã từng đọc Kinh Thánh thì sẽ thấy ngay rằng nhiều người đau khổ như các người bị bệnh phong, người mù, bất toại hay là người câm đều đã được Chúa Giêsu chữa lành. Thông điệp của Ngài về Nước Chúa sẽ đến đều luôn luôn có quan hệ với các dấu hiệu bên ngoài và các hoạt động cụ thể. Ngài cứu người bị quỷ ám xứ Gerasa khỏi tình cảnh cách ly và mất định hướng. Người mù được thấy và nhận biết Ngài là Con của Chúa Cha. Một trong những đoạn Thánh kinh mà tôi ưa thích là đoạn nói về Chúa Giêsu chữa lành người phụ nữ bị còng lưng trong Tin Mừng Luca, chương 13, câu 10-17, kể lại như sau:
“Một ngày Sa-bát, Đức Giêsu đang giảng dạy ở hội đường. Tại đó có một phụ nữ mắc bệnh quỷ ám, phải đau liệt đã 18 năm, còng lưng và không đứng thẳng được. Đức Giêsu vừa thấy thì gọi bà và nói: Này bà, bà đã được cứu khỏi bệnh. Và Ngài đặt tay lên đầu người phụ nữ , tức thì bà đứng thẳng lên được và ngợi khen Thiên Chúa”.
Người phụ nữ này suốt 18 năm trời bị chứng còng lưng giam hãm không thể đứng thẳng lên, không thể thấy người khác ngang tầm. Gặp được Chúa Giêsu bà được chữa lành bệnh và đứng thẳng lại. Bà tự mình cám ơn và ngợi khen Chúa về quà tặng này.
Dựa vào các chuyện chữa bệnh trong Thánh kinh, chúng ta có thể hiểu “Nước Chúa” có nghĩa là con người được đứng thẳng, được giải phóng và cứu độ. Người được Chúa chữa lành có thể sống khỏe và hiểu rõ ra Thiên Chúa là Đấng Tạo Thành. Người được chữa lành có thể nối kết với Thiên Chúa, hội nhập với xã hội và trách nhiệm về hành vi của mình.
Những câu chuyện về chữa lành bệnh là cụ thể và có thật. Nhiều việc Chúa Giêsu làm mang tính thực tế: Ngài chữa lành người mù bằng bôi xức, hay chạm đến người khác bằng cách đặt tay lên đầu. Mối liên hệ giữa người đau ốm và Chúa Giêsu có tầm quan trọng đặc biệt. Thường các bản văn Hy lạp mô tả cách khách quan người bệnh ban đầu còn ở một khoảng cách nào đó, đến sau trong quá trình chữa bệnh, họ trở thành một cá nhân có tương quan với Chúa Giêsu. Người được chữa lành bệnh rất thường tuyên xưng niềm tin của mình. Họ có kinh nghiệm về Nước Thiên Chúa nơi thân xác và cuộc sống của riêng mình. Chúa Giêsu giao cho các môn đệ sứ mệnh: “Hãy chữa lành kẻ đau yếu đến với các con và nói với họ rằng: Nước Thiên Chúa đã đến gần các ngươi” (Lc,10,9). Nhiều đoạn Tin Mừng đòi hỏi các môn đệ làm theo gương Chúa Giêsu và ra tay chữa lành bệnh tật.
Do đó người ta có thể nói rằng không thể giảm thiểu sứ điệp của Chúa Giêsu vào nguyên lời rao giảng. Các môn đệ được sai vào thế gian này không chỉ để giảng dạy mà thôi, họ phải chủ động nâng người ta đứng dậy và giúp họ có thể tham gia vào đời sống xã hội.
Cuộc sống người môn đệ Đức Giêsu bắt nguốn từ trong cuộc đời, sự thương khó và phục sinh của Ngài. Niềm tin vào Tin Mừng này giúp con người đứng dậy và được giải phóng thoát khỏi những giới hạn và cạm bẫy. Chúa Giêsu kêu gọi và trao quyền cho người môn đệ để họ sử dụng tài năng của mình tăng sức cho người khác và sống như một người con đạo hạnh.
Sự chữa lành và sứ điệp về lòng nhân ái cũng như cách Kitô hữu thực hành đã tỏa sáng vào cộng đồng thời xưa. Trong những cộng đồng do Thánh Phaolô sáng lập, người ta yêu thương chăm sóc tha nhân vì họ coi đó là việc thực hành ‘diaconia’ (‘sứ vụ bác ái’ đây là thuật ngữ tiếng Hy lạp chỉ lòng yêu thương anh chị em, tiếng Latinh có cùng ý nghĩa là “caritas”).Và “sứ vụ bác ái ” liên hệ mật thiết với cử hành bí tích và giáo huấn. Từ thời nguyên thủy, ba thành tố này là trụ cột của các cộng đoàn tín hữu Kitô và của Giáo hội xét theo là một toàn thể; có thể so sánh với lá cây ba khía (đây là một loại thảo mộc có nhiều ở nước chúng tôi, mỗi lá có ba khía tròn phân biệt cùng một cuống lá; Việt nam có lẻ cũng có). Ba tác vụ bác ái, phụng vụ và giáo huấn đan kết lại với nhau thành một thể duy nhất trong Giáo hội là cộng đoàn của Đức Giêsu Kitô. Nếu một trong ba yếu tố này bị lơ là thì toàn bộ sẽ có nguy cơ thất bại.
3.- PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CARITAS CỦA GIÁO HỘI
Qua nhiều thế kỷ, Kitô giáo còn giữ được sức hút không chỉ nhờ sự cứu trợ người nghèo và bệnh nhân. Các bệnh viện do các hội dòng và nhiều Kitô hữu thiện nguyện lập ra đã kết thành như thể một hệ thống phúc lợi xã hội. Điển hình cho sự dấn thân của cá nhân hoặc nhóm Kitô hữu là nhận biết và hổ trợ nhu cầu chính xác của người khác. Sự giúp đỡ này là một trong những điểm sáng của Giáo hội mặc dầu trong lịch sử cũng có những mặt đen tối không thể chối cãi.
Trong quá trình lịch sử, nhiều Caritas tự phát khác nhau đã thành hình trong Giáo Hội. Sự đa dạng này còn được thấy trong cơ cấu và các chi nhánh của Caritas Đức. Đức Ông Lorenz Werthmann, người sáng lập Caritas Đức qui củ và chuyên nghiệp, đã có ý tưởng hiệp nhất những tổ chức tự phát này thành Hiệp Hội Caritas Đức. Mục tiêu là tạo nên một môi trường để các nhóm học hỏi lẫn nhau, giúp nhau cải thiện việc phục vụ những người đang cần cứu giúp. Ngay từ lúc khởi đầu, họ không nhắm tạo nên một hệ thống từ thiện xã hội riêng trong Giáo hội nhưng nhằm củng cố và tổ chức hoạt động Caritas bằng những cách thế khác nhau sao cho đem lại hiệu quả tích cực trong xã hội và làm cho tâm trí người ta biết rung cảm trước nhu cầu và lo âu của đồng bào.
Công Đồng Vatican II đã nhấn mạnh về điểm này. Qua Công Đồng này, Giáo Hội mong muốn đáp ứng được các nhu cầu của con người càng nhiều càng tốt. Hiến chế mục vụ ‘Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay’ (Gaudium et Spes) viết như sau: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, đặc biệt là những người nghèo và đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của những người theo Chúa Kitô. Thực vậy, không có gì thực sự của con người mà không vang vọng trong lòng họ “.(GS 1)
Thế nên Caritas cho thấy Giáo hội gần gũi với con người. Caritas đến với con người trong những tình huống sống động cụ thể không phân biệt chủng tộc hoặc tôn giáo. Sự bênh vực và cứu giúp là hai loại hoạt động của Hội. Ngoài ra, Hội phát huy tính liên đới. Tác nhân ràng buộc các yếu tố này chính là việc Thiên Chúa chăm sóc dân Ngài như được mô tả trong sách “Xuất hành”: “ Ta đã thấy rõ nỗi cùng khốn của dân Ta….. và Ta đã nghe tiếng chúng kêu than…và Ta biết được các nổi đau khổ của chúng (Ex 3, 7). Bởi vậy Giáo hội và Caritas được tổ chức để làm chứng cho sự hiện diện giải phóng của Thiên Chúa- và thể hiện điều đó qua những hoạt động và sự chăm sóc thực tế cho con người và xã hội của họ.
4.- ĐỘNG LỰC CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊDICTÔ XVI TRONG THÔNG ĐIỆP “THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU”.
Tầm quan trọng của Caritas trong Hội Thánh được Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI nhấn mạnh trong thông điệp đầu tiên của ngài “Thiên Chúa Là Tình Yêu”. “Yêu thương người lân cận bắt nguồn từ tình yêu Thiên Chúa, trước hết và trên hết là nhiệm vụ của từng cá nhân tín hữu, nhưng cũng là nhiệm vụ của toàn thể cộng đồng Hội Thánh”. (20) Ngoài ra, Hội Thánh không thể chểnh mãng trong việc thực thi bác ái cũng như không thể chểnh mãng bí tích và Lời Chúa.” (22) Với lời phát biểu này, Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI nêu lên một điểm phải nhấn mạnh. Theo Thông điệp này, Caritas không thể ủy thác hoặc coi là phần phụ thêm có thể bỏ đi khi gặp khủng hoảng. Lời phát biểu này củng cố sức mạnh cho tất cả những ai dấn thân để phát triển Caritas ở Việt nam, ở nước Đức và trên toàn thế giới.
Caritas là Giáo hội ở giữa lòng xã hội. Thông điệp này nhấn mạnh rằng các hoạt động bác ái xã hội có thể được triển khai bằng nhiều cách khác nhau, bằng những hoạt động từ thiện của các giáo xứ, của các nhóm từ thiện tự phát, hay có tổ chức chuyên môn của Hội Thánh. Lần đầu tiên, một thông điệp của Giáo Hoàng minh nhiên coi Caritas với các dịch vụ và thể chế do Caritas điều hành là sự diễn tả sứ mạng của Giáo Hội. Theo đường lối này, thông điệp nhấn mạnh rằng: Caritas nằm trong việc làm của các Caritas cũng như trong những việc bác ái tại giáo xứ và trong các nhóm. Tất cả đều được kêu mời vào cuộc. Thực tế, nhiều xứ phát triển các nhóm từ thiện tự phát và nhiều người làm tình nguyện viện. Bên Đức, một số hình thức chuyên nghiệp trong Cartias thành hình từ các nhóm tự phát tại giáo xứ, chẳng hạn mạng lưới chăm sóc sức khỏe gia đình hay các trung tâm chăm sóc trẻ em ban ngày.
Thông qua ban điều hành tự nguyện hoặc có lương, các dịch vụ và cơ sở của Caritas đáp ứng khẩn trương với chất lượng cao nhiều nhu cầu khác nhau. Tại nhiều nơi có quan hệ tốt và sự hợp tác chặt chẽ giữa các giáo xứ với các dịch vụ và cơ sở của Caritas.
5.-LỜI KẾT
“Những thiên thần của Chúa không cần có cánh”- Đây là tên của cuốn sách nói về “các thiên thần” cách đây vài năm ở bên Đức. Đôi khi chúng ta kinh nghiệm ai đó đang đồng hành với ta trong đời kêu gọi, thúc đẩy và cổ vũ ta mà không làm ta mất trách nhiệm, ai đó bên ta đang sát cánh chiến đấu để hoàn thành những điều thiện hảo. Bằng cách này, chính chúng ta có thể trở thành thiên thần của Chúa. Đây là lời chúc tốt đẹp nhất tôi gửi đến anh chị em: chúc anh chị em cảm nhận mình được Thiên Chúa yêu nâng đỡ phù trì để rồi anh chị em có thể trở thành những thiên thần của Ngài.
Chúng tôi sẽ đồng hành cùng quý anh chị em trong công việc của anh chị em với hết khả năng của chúng tôi. Chúc anh chị em và những người được anh chị em phục vụ được mọi sự lành cùng với ơn phúc được chữa lành và hòa giải của Thiên Chúa.
Đức Ông Tiến sĩ Peter Neher, Chủ Tịch Caritas Đức
Bản dịch của Trương Như Phỉ và Tô Minh
|