Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI


Cờ Tòa Thánh Vatican

 



Đại Hội Dân Chúa 2012



Giáo Lý Cộng Đồng


Năm Thánh 2010


Sunday Mass in English


Giờ Lễ


 


Thánh Nhạc


Bản đồ truy cập

 
Chuyên mục » GIÁO PHẬN ĐÀ NẴNG » Giáo Lý Cộng Đồng » Phần I : Tuyên Xưng Đức Tin Hôm nay la 22-05-2012 00:15
Phần I : Tuyên Xưng Đức Tin
2009-11-27 20:42:57


 

 

 


 

HÃY BẮT ĐẦU !

 

                Cộng Đoàn Dân Chúa Giáo Phận thân mến,

                Sau chuyến viếng thăm Toà Thánh vào tháng 6+7/2009 trở về, nhiều người thắc mắc vói tôi: trong 15 phút được Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI tiếp kiến riêng, ĐTC đã nói gì với Đức Cha? - Nhiều điều, nhưng nhớ nhất là khi Ngài hỏi: đâu là mối bận tâm lớn nhất của con khi làm mục tử một giáo phận? Không cần suy nghĩ lâu, tôi thưa với Ngài: Đó là vấn đề giáo dục đức tin cho Dân Chúa. Ngài ân cần khuyên tôi: Đây là công việc con phải làm cả đời. Hãy bắt đầu cùng với các cộng sự viên của con. Tôi thưa với Ngài về cuốn Toát Yếu Giáo Lý Công Giáo mới phát hành mà tôi rất quan tâm. Ngài bảo: Đó là thủ bản tốt nhất hiện nay. Rồi Ngài nhắc lại: Hãy bắt đầu!

                Thưa Quý Cha và Anh Chị Em, vâng lời Đức Thánh Cha, Gia đình Giáo phận chúng ta cùng nhau bắt đầu.

                Cơ hội lớn đến với chúng ta khi Giáo Hội Việt Nam cử hành Năm Thánh mừng 350 năm thành lập 2 Giáo phận Tông Toà đẩu tiên tại Việt Nam và 50 năm thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam vào Năm 2010 này.

                Chúng ta cùng học giáo lý với nhau theo một chương trình được đặt tên là Giáo Lý Cộng Đồng, với sự tham gia tổng lực của mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo phận. Trong mỗi chu kỳ 3 năm, bắt đầu từ Chúa Nhật I Mùa Vọng năm nay, toàn Giáo phận chúng ta sẽ đồng loạt học hết 598 câu hỏi thưa của cuốn Toát Yếu Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo.

                Tôi tha thiết mời gọi các giáo xứ, họ đạo, cộng đoàn dòng tu, các đoàn thể, hội đoàn và từng gia đình, mỗi thành viên trong Giáo phận, tham gia chương trình này cách chuyên cần với những nỗ lực và sáng kiến mang lại hiệu quả tốt nhất.

                Xin Thiên Chúa chúc lành cho chương trình Giáo Lý Cộng Đồng này.

Đà Nẵng, ngày 15 tháng 11 năm 2009

 

+ Giuse Châu Ngọc Tri

Giám mục Giáo phận Đà Nẵng


 

GIÁO LÝ CỘNG ĐỒNG

NĂM PHỤNG VỤ 2010

 

 

GIÁO LÝ TUẦN 1 :

Chúa Nhật I Mùa Vọng (29.11.2009)

1. H- Ý định của Thiên Chúa dành cho con người là gì ?

T- Thiên Chúa tự bản thể là Đấng vô cùng hoàn hảo và hạnh phúc. Theo ý định hoàn toàn do lòng nhân hậu, Ngài đã tự ý tạo dựng con người, để cho họ được thông phần sự sống hạnh phúc của Ngài. Khi thời gian đến hồi viên mãn, Thiên Chúa Cha đã cử Con Ngài đến làm Đấng Cứu Thế chuộc tội cho nhân loại đã sa ngã trong tội lỗi, để kêu gọi họ vào trong Hội Thánh Ngài, và nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, đón nhận họ làm dưỡng tử, và làm người thừa hưởng hạnh phúc vĩnh cửu của Ngài.

 

2. H- Tại sao con người khao khát Thiên Chúa ?

T- Khi tạo dựng con người theo hình ảnh mình, chính Thiên Chúa đã khắc ghi vào trong tâm hồn họ sự khao khát nhìn thấy Ngài. Cả khi họ không nhận ra sự khát khao này, Thiên Chúa vẫn không ngừng lôi kéo họ đến với mình để họ được sống và tìm được nơi Ngài chân lý và hạnh phúc viên mãn mà họ không ngừng tìm kiếm. Vì vậy, tự bản chất và do ơn gọi của mình, con người là một hữu thể tôn giáo, có khả năng đi vào sự hiệp thông với Thiên Chúa. Mối liên hệ mật thiết và sống động này với Thiên Chúa đem lại cho con người phẩm giá căn bản của mình.

3. H- Với ánh sáng tự nhiên của lý trí, con người có thể nhận biết Thiên Chúa không ?

T- Khởi từ công trình tạo dựng, nghĩa là từ thế giới vật chất và con người, con người có thể chỉ dùng lý trí cũng nhận biết cách chắc chắn có Thiên Chúa là nguồn gốc và cùng đích của vũ trụ, là sự thiện hảo tuyệt đối, là chân lý và vẻ đẹp vô cùng vô tận.

4. H- Chỉ với ánh sáng tự nhiên của lý trí, con người có đủ khả năng để nhận biết mầu nhiệm Thiên Chúa hay không ?

T- Chỉ với ánh sáng của lý trí, con người sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhận biết Thiên Chúa. Hơn nữa, tự mình, con người không thể nào đi vào mầu nhiệm sâu thẳm của Thiên Chúa. Vì thế, Thiên Chúa đã muốn soi dẫn con người bằng cách mạc khải cho họ, không những về những gì vượt quá sự hiểu biết nhân loại, mà cả vể những chân lý tôn giáo và luân lý, tự chúng vốn không vượt quá khả năng của lý trí, như vậy mọi người có thể biết được những chân lý đó cách dễ dàng, chắc chắn và không sợ sai lầm.

 

GIÁO LÝ TUẦN 2 :

Chúa Nhật II Mùa Vọng (06/12/2009)

5. H- Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa thế nào ?

T- Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa cho tất cả mọi người, khởi đi từ những nét hoàn hảo của con người và của những thụ tạo khác, vì đó là một phản ánh, dù rất hữu hạn, về sự hoàn hảo vô tận của Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta phải không ngừng thanh luyện ngôn ngữ của chúng ta vì nó bất toàn và bị lệ thuộc vào hình ảnh, đồng thời phải ý thức rằng chúng ta không bao giờ có thể diễn tả đầy đủ mầu nhiệm vô tận của Thiên Chúa.

6. H- Thiên Chúa mạc khải cho con người điều gì?

T- Với lòng nhận hậu và sự khôn ngoan, Thiên Chúa tự mạc khải chính mình cho con người. Qua các biến cố và lời nói, Thiên Chúa tự mạc khải chính Ngài cũng như ý định của lòng nhân hậu, mà Ngài đã hoạch định tự muôn đời trong Đức Kitô vì lợi ích của con người. Ý định này nhằm cho mọi người, nhờ ân sủng Chúa Thánh Thần, được thông phần sự sống của Thiên Chúa để trở nên nghĩa tử trong Người Con duy nhất của Ngài.

7. H- Những giai đoạn đầu tiên của mạc khải là gì?

T- Từ nguyên thủy, Thiên Chúa tỏ mình ra cho nguyên tổ của chúng ta, là ông Ađam và bà Evà, và mời gọi họ hiệp thông mật thiết với Ngài. Sau khi họ sa ngã, Ngài đã không chấm dứt việc mạc khải, nhưng đã hứa ban ơn cứu độ cho tất cả dòng dõi của họ. Sau cơn lụt đại hồng thủy, Ngài đã ký kết với ông Nôe một Giao ước giữa Ngài với tất cả các sinh vật.

8. H- Những giai đoạn tiếp theo của mạc khải của Thiên Chúa là gì ?

T- Thiên Chúa chọn ông Ábraham, khi gọi ông rời bỏ quê hương để làm cho ông trở thành “cha của vô số dân tộc” (St 17,5) và hứa sẽ chúc lành cho “mọi gia tộc trên mặt đất” (St 12,3) qua ông. Dòng dõi ông Abraham là những kẻ được ủy thác các lời Thiên Chúa đã hứa với các tổ phụ. Thiên Chúa đã lập Israel làm dân Ngài tuyển chọn, cứu thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập, thiết lập với họ Giao ước Sinai, và qua ông Môsê, Ngài ban cho họ Lề luật của Ngài. Các tiên tri đã loan báo một ơn cứu chuộc toàn diện cho dân Chúa và một ơn cứu độ bao gồm mọi dân tộc, trong một Giao ước mới và vĩnh cửu. Từ dân Israel, từ dòng dõi vua Đavít, Đấng Mêsia sẽ sinh ra : đó là Chúa Giêsu.

 

GIÁO LÝ TUẦN 3 :

Chúa Nhật III Mùa Vọng (13/12/2009)

9. H- Giai đoạn mạc khải trọn vẹn và cuối cùng của Thiên Chúa là gì ?

T- Giai đoạn mạc khải trọn vẹn và cuối cùng của Thiên Chúa được thực hiện nơi Ngôi Lời nhập thể, là Đức Giêsu Kitô, Đấng trung gian và viên mãn của Mạc khải. Chúa Giêsu, Con duy nhất của Thiên Chúa, đã làm người, là Lời hoàn hảo và cuối cùng của Chúa Cha. Mạc khải đã được hoàn tất cách trọn vẹn qua việc Thiên Chúa Cha sai Con Ngài và ban tặng Thánh Thần, mặc dù đức tin của Hội Thánh phải trải qua bao thế kỷ mới dần dần nhận biết ý nghĩa đầy đủ của Mạc khải.

10. H- Các mạc khải tư có giá trị nào ?

T- Các mạc khải tư mặc dầu không thuộc về kho tàng đức tin, nhưng có thể giúp chúng ta sống đức tin, với điều kiện là các mạc khải đó vẫn giữ một liên hệ chặt chẽ với Đức Kitô. Huấn quyền Hội Thánh, có thẩm quyền để phân định các mạc khải tư đó, không thể chấp nhận những mạc khải nào muốn vượt qua hay sửa đổi Mạc khải cuối cùng là chính Đức Kitô.

11. H- Tại sao phải lưu truyền Mạc khải của Thiên Chúa và lưu truyền bằng cách nào ?

T- Thiên Chúa “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,4), nghĩa là nhận biết Đức Giêsu Kitô. Vì thế, cần phải rao giảng Đức Kitô cho mọi người, như chính lời Người dạy : “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19). Điều này được thực hiện bởi Truyền thống Tông đồ.

12. H- Truyền thống Tông đồ là gì ?

T- Truyền thống Tông đồ là việc chuyển đạt sứ điệp của Đức Kitô, đã được hoàn tất ngay từ lúc khởi đầu Kitô giáo, qua việc rao giảng, làm chứng, qua các cơ chế, phụng tự, và các sách được linh ứng. Các Tông đồ đã chuyển đạt mọi điều các ngài đã lãnh nhận từ Đức Kitô và học hỏi từ Chúa Thánh Thần cho những người kế nhiệm các ngài, là các giám mục, và qua các vị, cho mọi thế hệ đến tận thế.

 

GIÁO LÝ TUẦN 4 :

Chúa Nhật IV Mùa Vọng (22/12/2009)

13. H- Truyền thống Tông đồ được thực hiện như thế nào ?

T- Truyền thống Tông đồ được thực hiện bằng hai cách : qua việc chuyển đạt sống động Lời Chúa (được gọi cách đơn sơ là Thánh Truyền) và qua Thánh Kinh, trong đó cùng một lời rao giảng ơn cứu độ được ghi lại bằng chữ viết.

14. H- Tương quan giữa Thánh Truyền và Thánh Kinh như thế nào ?

T- Thánh Truyền và Thánh Kinh liên kết và giao lưu mật thiết với nhau. Thật vậy, cả hai làm cho mầu nhiệm Đức Kitô được hiện diện và sung mãn trong Hội Thánh và cả hai cùng xuất phát từ một cội nguồn là Thiên Chúa. Cả hai làm nên một kho tàng đức tin duy nhất, nơi Hội Thánh nhận được sự đảm bảo chắc chắn về tất cả những chân lý được Mạc khải.

15. H- Kho tàng đức tin đã được ủy thác cho ai ?

T- Các thánh Tông đồ đã ủy thác kho tàng đức tin cho toàn thể Hội Thánh. Nhờ Chúa Thánh Thần hỗ trợ và nhờ Huấn quyền hướng dẫn, với cảm thức siêu nhiên của đức tin, toàn thể dân Chúa đón nhận mạc khải của Thiên Chúa, hiểu biết mỗi ngày một sâu xa hơn, và cố gắng áp dụng vào đời sống.

16. H- Ai có thẩm quyền để giải nghĩa kho tàng đức tin?

T- Chỉ có Huấn quyền sinh động của Hội Thánh, nghĩa là vị kế nhiệm thánh Phêrô làm giám mục Rôma và các giám mục hiệp thông với Ngài, mới có đủ thẩm quyền giải thích kho tàng đức tin. Huấn quyền, trong việc phục vụ Lời Chúa, được hưởng đặc sủng chắc chắn về chân lý, cũng có trách nhiệm xác định các tín điều, nghĩa là những công thức trình bày các chân lý chứa đựng trong Mạc khải của Thiên Chúa : thẩm quyền này cũng áp dụng đối với các chân lý có liên hệ thiết yếu với Mạc khải.

 

GIÁO LÝ TUẦN 5 :

Chúa Nhật Lễ Thánh Gia Thất (27/12/2009)

17. H- Đâu là mối tương quan giữa Thánh Kinh, Thánh Truyền và Huấn quyền ?

T- Thánh Kinh, Thánh Truyền và Huấn quyền liên hệ chặt chẽ với nhau, đến độ thực thể này không hiện hữu nếu không có hai thực thể kia. Dưới tác động của cùng một Chúa Thánh Thần, cả ba cùng góp phần cách hữu hiệu vào ơn cứu độ loài người, mỗi thực thể theo cách thức riêng của mình.

18. H- Tại sao Thánh Kinh dạy chân lý ?

T- Bởi vì chính Thiên Chúa là tác giả của Thánh Kinh. Do đó, Thánh Kinh là quyển sách được linh ứng và dạy dỗ cách không sai lạc những chân lý cần thiết cho ơn cứu độ chúng ta. Thật vậy, Chúa Thánh Thần linh ứng cho các tác giả phàm nhân để họ viết ra những điều Thiên Chúa muốn dạy dỗ chúng. Tuy nhiên, đức tin Kitô giáo không phải là một “tôn giáo của sách vở”, nhưng là của Lời Thiên Chúa, “không là một lời được viết ra và câm lặng, nhưng là Ngôi Lời nhập thể và sống động” (Thánh Bênađô Clairvaux).

19. H- Chúng ta phải đọc Thánh Kinh như thế nào ?

T- Thánh Kinh phải được đọc và giải thích với ơn trợ giúp của Chúa Thánh Thần, và với sự hướng dẫn của Huấn quyền Hội Thánh, theo ba tiêu chuẩn : (1) phải chú ý đến nội dung và sự duy nhất của toàn bộ Thánh Kinh ; (2) phải đọc Thánh Kinh trong Thánh Truyền sống động của Hội Thánh ; (3) phải chú ý đến tính tương hợp của đức tin, nghĩa là đến sự liên hệ hài hòa giữa các chân lý đức tin với nhau.

20. H- Quy điển các Sách Thánh là gì ?

T- Quy điển các Sách Thánh là danh mục đầy đủ các Sách Thánh, mà Truyền thống Tông đồ đã phân định rõ ràng cho Hội Thánh. Quy điển này gồm có bốn mươi sáu tác phẩm Cựu Ước và hai mươi bảy tác phẩm Tân Ước.

 

GIÁO LÝ TUẦN 6 :

Chúa Nhật Lễ Hiển Linh (03/01/2010)

21. H- Đâu là tầm quan trọng của Cựu Ước đối với các người Kitô hữu ?

T- Người Kitô hữu tôn kính Cựu Ước như là Lời đích thực của Thiên Chúa. Tất cả các tác phẩm của Cựu Ước được Thiên Chúa linh ứng nên có một giá trị trường tồn. Cựu Ước làm chứng về  phương pháp giáo dục của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Nhất là, các tác phẩm Cựu Ước được viết ra để chuẩn bị cho việc Đức Kitô, Đấng Cứu Độ muôn loài, ngự đến.

22. H- Đâu là tầm quan trọng của Tân Ước đối với các người Kitô hữu ?

T- Đối tượng trung tâm của Tân Ước là Đức Giêsu Kitô. Tân Ước dạy chúng ta chân lý cuối cùng được Thiên Chúa mạc khải. Trong Tân Ước, bốn quyển Tin Mừng - Mátthêu, Marcô, Luca và Gioan - là những lời chứng chính yếu về đời sống và về lời giảng dạy của Chúa Giêsu; vì  thế, bốn quyển sách này là trung tâm của tất cả các Sách Thánh và có một vị trí độc nhất trong Hội Thánh.

23. H- Đâu là sự thống nhất giữa Cựu Ước và Tân Ước?

T- Thánh Kinh chỉ là một, vì chỉ có một Lời Chúa duy nhất, một chương trình cứu độ duy nhất của Thiên Chúa và một linh hứng duy nhất của Thiên Chúa cho cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Cựu Ước chuẩn bị cho Tân Ước và Tân Ước hoàn thành Cựu Ước : cả hai soi sáng cho nhau.

24. H- Thánh Kinh giữ vai trò nào trong đời sống Hội Thánh ?

T- Thánh Kinh nâng đỡ và thêm sức mạnh cho đời sống Hội Thánh. Đối với con cái Hội Thánh, Thánh Kinh củng cố đức tin, là lương thực và nguồn mạch của đời sống thiêng liêng. Thánh Kinh là linh hồn của khoa thần học và giảng thuyết mục vụ. Tác giả Thánh Vịnh gọi Thánh Kinh là “đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 118 [119],105). Vì thế, Hội Thánh khuyến khích chúng ta thường xuyên đọc Thánh Kinh, vì “không biết Thánh Kinh là không biết Đức Kitô” (thánh Giêrônimô).

 

GIÁO LÝ TUẦN 7 :

Chúa Nhật Chúa Giêsu chịu phép Rửa (10/01/2010)

25. H- Con người đáp trả như thế nào với Thiên Chúa, Đấng tự mạc khải ?

T- Được ân sủng của Thiên Chúa nâng đỡ, con người đáp lời Thiên Chúa bằng việc vâng phục đức tin, nghĩa là tin tưởng trọn vẹn vào Thiên Chúa và đón nhận chân lý của Ngài, chân lý được Thiên Chúa bảo đảm vì Ngài là chính Chân Lý.

26. H- Trong Thánh Kinh, ai là những nhân chứng chính yếu cho việc vâng phục đức tin?

Có nhiều chứng nhân, nhưng đặc biệt là hai vị:

Ông Abraham, dù bị thử thách, “vẫn vững tin vào Thiên Chúa” (Rm 4,3) và luôn vâng theo tiếng gọi của Ngài ; vì thế ông trở thành “tổ phụ của tất cả những người tin” (Rm 4,11.18);

Đức Trinh Nữ Maria, trong suốt cuộc đời đã thể hiện một cách tuyệt vời sự vâng phục đức tin: “Fiat mihi secundum verbum tuum - Xin Chúa thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38).

27. H- Tin vào Thiên Chúa có ý nghĩa cụ thể gì cho con người ?

T- Tin có nghĩa là gắn bó với chính Thiên Chúa, tin tưởng phó thác bản thân cho Ngài và chấp nhận tất cả những chân lý do Ngài mạc khải vì Ngài chính là Chân Lý. Tin có nghĩa là tin kính Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Vị : Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

28. H- Đức tin có những đặc điểm nào ?

T- Đức tin là nhân đức siêu nhiên cần thiết để được cứu độ. Đức tin là hồng ân Thiên Chúa ban không, và tất cả những ai khiêm tốn cầu xin đều có thể đạt tới. Hành vi đức tin là một hành vi nhân linh, nghĩa là một hành động của lý trí con người, được lòng muốn thúc đẩy do tác động của Thiên Chúa, tự do chấp nhận chân lý Thiên Chúa. Ngoài ra, đức tin còn có đặc tính chắc chắn, vì được đặt nền tảng trên Lời Chúa ; đức tin hành động “nhờ đức ái” (Gl 5,6) ; đức tin luôn tăng triển, đặc biệt nhờ lắng nghe Lời Chúa và cầu nguyện. Ngay từ bây giờ, đức tin cho chúng ta nếm trước niềm vui trên trời.

 

GIÁO LÝ TUẦN 8 :

Chúa Nhật 2 Thường niên (17/01/2010)

 

29. H- Tại sao không có mâu thuẫn giữa đức tin và khoa học ?

T- Dù đức tin vượt lên trên lý trí, nhưng không bao giờ có mâu thuẫn giữa đức tin và khoa học, vì cả hai đều có cùng một cội nguồn là Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa  ban ánh sáng lý trí và ban đức tin cho con người.

“Tôi tin để hiểu và tôi hiểu để tin” (Thánh Augustinô)

30. H- Tại sao đức tin là một hành vi cá nhân nhưng đồng thời cũng là hành vi mang tính giáo hội ?

T- Đức tin là một hành vi cá nhân, vì đó là sự đáp trả tự do của con người đối với Thiên Chúa, Đấng tự mạc khải. Nhưng đồng thời đó cũng là một hành vi mang tính giáo hội, tính chất này được bày tỏ trong lời tuyên xưng : “Chúng tôi tin.” Thật vậy, chính Hội Thánh tin: và như thế, nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần, Hội Thánh đi trước, sinh ra và nuôi dưỡng đức tin của mỗi người. Vì thế, Hội Thánh là Mẹ và là Thầy.

“Không có ai có thể có Thiên Chúa là Cha, mà lại không có Hội Thánh là Mẹ.” (Thánh Cyprianô)

31. H- Tại sao những công thức đức tin lại quan trọng ?

T- Những công thức đức tin là quan trọng vì giúp chúng ta diễn tả, thấm nhuần, cử hành và cùng chia sẻ với những người khác các chân lý đức tin, qua việc sử dụng một ngôn ngữ chung.

32. H- Phải hiểu như thế nào về đức tin duy nhất của Hội Thánh ?

T- Dù được hình thành do nhiều người khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa và phong tục, Hội Thánh đồng thanh tuyên xưng một đức tin duy nhất, được lãnh nhận từ một Chúa duy nhất và được chuyển đạt qua một Truyền thống tông đồ duy nhất. Hội Thánh tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất - Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần - và dạy một con đường cứu độ duy nhất. Vì thế, chúng ta cùng một lòng một ý, tin những gì chứa đựng trong Lời Chúa, được truyền đạt hay được viết ra, và những gì được Hội Thánh xác định là do Thiên Chúa mạc khải.

 

GIÁO LÝ TUẦN 9 :

Chúa Nhật 3 Thường niên (24/01/2010)

33. H- Các Kinh Tin Kính là gì ?

T- Đó là những công thức ngắn gọn, còn được gọi là “những bản tuyên xưng đức tin” hay “Kinh Tin Kính” qua đó Hội Thánh, ngay từ thuở ban đầu, đã diễn tả đức tin của mình một cách tổng hợp và chuyển đạt đức tin ấy bằng một ngôn ngữ chuẩn hóa và chung cho mọi tín hữu.

34. H- Các Kinh Tin Kính cổ nhất là những kinh nào ?

T- Đó là những Kinh Tin Kính dùng khi cử hành Bí tích Rửa Tội. Vì Bí Tích Rửa Tội được ban “nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19), nên các chân lý đức tin mà các người lãnh nhận bí tích Rửa Tội tuyên xưng, được phân chia theo ba Ngôi vị của Thiên Chúa Ba Ngôi.

35. H- Các Kinh Tin Kính quan trọng nhất là những kinh nào ?

T- Những kinh quan trọng nhất là :

Kinh Tin Kính của các Thánh Tông đồ, là bản tuyên xưng đức tin cổ xưa dùng khi cử hành Bí tích Rửa Tội của Giáo hội Rôma ;

Kinh Tin Kính Công đồng Ni-xê-a Công-stân-ti-nô-pô-li, là kết quả của hai Công đồng Chung đầu tiên, tại Nicea (năm 325) và tại Constantinopoli (năm 381).

Hai kinh này vẫn còn là hai bản kinh chung cho tất cả các Giáo hội lớn của Đông Phương và Tây Phương.

36. H- Tại sao bản tuyên xưng đức tin được khởi đầu bằng “Tôi tin kính Đức Chúa Trời”?

T- Bởi vì xác quyết “Tôi tin kính Đức Chúa Trời” là điều quan trọng nhất. Xác quyết này là nguồn gốc của mọi chân lý khác về con người, về vũ trụ và về toàn bộ đời sống của tất cả những ai tin Thiên Chúa.

 

GIÁO LÝ TUẦN 10 :

Chúa Nhật 4 Thường niên (31/01/2010)

37. H- Tại sao chúng ta tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất ?

T- Bởi vì Thiên Chúa đã mạc khải cho dân Israel biết rằng Ngài là Thiên Chúa Duy Nhất, khi Ngài nói : “Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất” (Đnl 6,4). “Ta là Thiên Chúa, chẳng còn Chúa nào khác” (Is 45,22). Chính Chúa Giêsu cũng xác nhận điều này : Thiên Chúa là “Đức Chúa duy nhất” (Mc 12,29). Tuyên xưng Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần cũng là Thiên Chúa và là Đức Chúa không hề đưa đến sự chia cắt nào nơi Thiên Chúa duy nhất.

38. H- Thiên Chúa tự mạc khải với danh xưng nào ?

T- Thiên Chúa đã mạc khải chính mình cho Môsê là Thiên Chúa hằng sống, “Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaác, Thiên Chúa của Giacop” (Xh 3,6). Ngài cũng mạc khải Danh Thánh huyền nhiệm của Ngài cho ông : “Ta là Đấng Hằng Hữu” (YHWH). Ngay từ thời Cựu Ước, Danh Thánh của Thiên Chúa không được phép đọc lên, nên phải thay thế bằng danh hiệu Đức Chúa. Như vậy trong Tân Ước, Chúa Giêsu được người ta gọi là Đức Chúa, tức là được nhìn nhận là Thiên Chúa thật.

39. H- Có phải chỉ một mình Thiên Chúa “hiện hữu” không ?

T- Trong khi tất cả mọi thụ tạo đều lãnh nhận từ Thiên Chúa tất cả những gì chúng là và có, chỉ Thiên Chúa mới tự mình hiện hữu một cách trọn vẹn và tuyệt hảo. Ngài là “Đấng Hằng Hữu” không có khởi đầu và cũng chẳng có cùng tận. Chúa Giêsu cũng mạc khải rằng Người mang Danh Thánh : “Ta hằng hữu” (Ga 8,28).

40. H- Tại sao việc Mạc khải Danh Thánh Thiên Chúa là điều quan trọng ?

T- Qua việc mạc khải Danh Thánh, Thiên Chúa cho thấy sự phong phú chất chứa trong mầu nhiệm khôn lường của Ngài. Chỉ mình Ngài hiện hữu từ muôn thuở và cho đến muôn đời. Ngài siêu việt trên vũ trụ và lịch sử. Chính Ngài là Đấng tạo thành trời đất. Ngài là Thiên Chúa trung tín, luôn gần gũi với dân để cứu độ họ. Ngài là Đấng Thánh tuyệt hảo, “giàu lòng thương xót” (Ep 2,4), luôn sẵn sàng tha thứ. Ngài là Hữu Thể thiêng liêng, siêu việt, toàn năng, vĩnh cửu, ngôi vị, trọn hảo. Ngài là chân lý và tình yêu.

“Thiên Chúa là Hữu Thể vô cùng tuyệt hảo, là Ba Ngôi Cực Thánh.” (Thánh Turibius thành Montenegro)

 

GIÁO LÝ TUẦN 11 :

Chúa Nhật 5 Thường niên (07/02/2010)

41. H- Phải hiểu “Thiên Chúa là chân lý” như thế nào ?

T- Thiên Chúa là chính Chân lý ; và do đó, Ngài không lầm lẫn, cũng không thể  lừa dối ai. Ngài là “Ánh sáng, nơi Ngài không có một chút bóng tối nào” (1 Ga 1,5). Người Con vĩnh cửu của Thiên Chúa, là sự Khôn Ngoan nhập thể, đã được sai đi vào thế gian “để làm chứng cho chân lý” (Ga 18,37).

42. H- Thiên Chúa mạc khải Ngài là Tình Yêu như thế nào ?

T- Thiên Chúa tự mạc khải cho dân Israel rằng Ngài là Đấng có một tình yêu mạnh mẽ hơn tình yêu của cha mẹ đối với con cái hoặc của vợ chồng đối với nhau. Tự bản chất, “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8.16), Ngài tự hiến ban mình cách trọn vẹn và ban không, Ngài “yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, […] để nhờ Con Ngài, mà thế gian được cứu độ” (Ga 3,16-17). Khi sai phái Con Ngài và Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa mạc khải chính Ngài là sự trao đổi tình yêu vĩnh cửu.

43. H- Niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất bao hàm những gì ?

T- Niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất bao hàm : việc nhận biết sự vĩ đại và quyền năng của Ngài ; sống trong tâm tình cảm tạ, luôn tin tưởng vào Ngài, cả khi gặp nghịch cảnh ; nhận biết sự hợp nhất và phẩm giá đích thực của mọi người, đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa ; và sử dụng cách đúng đắn những gì Thiên Chúa đã dựng nên.

44. H- Mầu nhiệm trung tâm của đức tin và đời sống Kitô giáo là gì ?

T- Mầu nhiệm trung tâm của đức tin và đời sống Kitô giáo là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh. Các người Kitô hữu được rửa tội nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.

 

GIÁO LÝ TUẦN 12 :

Chúa Nhật I Mùa Chay (21/02/2010)

45. H- Chỉ dùng lý trí, con người có thể biết được mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi hay không ?

T- Thiên Chúa đã để lại những dấu vết về thực thể Ba Ngôi của Ngài trong công trình tạo dựng và trong Cựu Ước ; nhưng thực thể nội tại của Ba Ngôi cực thánh vẫn là một mầu nhiệm mà lý trí thuần túy của con người, và ngay cả đức tin của Israel cũng không thể nào đạt tới được, trước khi Con Thiên Chúa nhập thể và Chúa Thánh Thần được gửi đến. Mầu Nhiệm này đã được Đức Giêsu Kitô mạc khải và là nguồn gốc của tất cả các mầu nhiệm khác.

46. H- Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta điều gì về mầu nhiệm Chúa Cha ?

T- Đức Giêsu Kitô mạc khải cho chúng ta Thiên Chúa là “Cha”, không những vì Ngài là Đấng sáng tạo vũ trụ và con người, nhưng trên hết, vì từ đời đời Ngài đã sinh ra Chúa Con tự lòng mình, Đấng là Ngôi Lời, là “phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa” (Dt 1,3).

47. H- Chúa Thánh Thần, mà Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta, là ai ?

T- Ngài là Ngôi thứ ba trong Ba Ngôi cực thánh. Ngài là Thiên Chúa, hợp nhất và đồng hàng với Chúa Cha và Chúa Con. Ngài “xuất phát từ Chúa Cha” (Ga 15,26), Đấng là nguyên lý không có khởi đầu, là nguồn gốc tất cả cuộc sống của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần cũng xuất phát từ Chúa Con (Filioque), vì Chúa Cha đã trao ban Ngài cho Chúa Con như ân ban vĩnh cửu. Được Chúa Cha và Chúa Con nhập thể sai phái, Chúa Thánh Thần hướng dẫn Hội Thánh đến sự nhận biết “Chân lý trọn vẹn” (Ga 16,13)

48. H- Hội Thánh diễn tả đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi như thế nào ?

T- Hội Thánh diễn tả đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi khi tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất mà Ngài có Ba Ngôi : Cha, Con và Thánh Thần. Ba Ngôi vị thần linh chỉ là một Thiên Chúa duy nhất, vì mỗi Ngôi vị đều có trọn vẹn bản thể duy nhất và không thể phân chia của Thiên Chúa. Ba Ngôi thực sự phân biệt giữa nhau qua các liên hệ tương quan với nhau. Chúa Cha sinh Chúa Con ; Chúa Con được Chúa Cha sinh ra ; Chúa Thánh Thần xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con.

 

GIÁO LÝ TUẦN 13 :

Chúa Nhật II Mùa Chay (28/02/2010)

 

49. H- Các Ngôi vị Thiên Chúa hoạt động như thế nào ?

T- Ba Ngôi vị thần linh không thể tách rời nhau trong cùng một bản thể duy nhất, thì cũng không thể tách rời trong các hoạt động của mình. Ba Ngôi có cùng một hoạt động duy nhất. Tuy nhiên, trong hoạt động thần linh duy nhất này, mỗi Ngôi vị hiện diện theo cách đặc thù của mình trong Ba Ngôi.

“Lạy Thiên Chúa của con, Lạy Ba Ngôi con tôn thờ…xin ban bình an cho linh hồn con, xin biến linh hồn con thành thiên đàng của Chúa, thành nơi trú ngụ mà Chúa ưa thích, và nơi nghỉ ngơi của Chúa. Ước gì con không bao giờ bỏ mặc Chúa một mình, nhưng con sẽ trọn vẹn ở đó, tỉnh thức trong đức tin, hoàn toàn thờ lạy, và hoàn toàn phó thác vào hoạt động sáng tạo của Chúa” (Chân phước Êlisabeth Chúa Ba Ngôi).

50. H- Thiên Chúa toàn năng nghĩa là gì ?

T- Thiên Chúa đã tự mạc khải là “Đấng Mạnh Mẽ, Đấng Uy Quyền” (Tv 23 [24],8), Đấng “không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37). Sự toàn năng của Ngài là phổ quát và mầu nhiệm. Sự toàn năng này được biểu lộ trong việc sáng tạo vũ trụ từ hư vô và sáng tạo con người vì tình yêu, nhưng nhất là trong mầu nhiệm Nhập thể và trong sự phục sinh Con của Ngài, trong hồng ân đón nhận chúng ta làm nghĩa tử và thứ tha tội lỗi. Vì thế, Hội Thánh dâng lời cầu nguyện lên “Thiên Chúa toàn năng và vĩnh cửu”.

51. H- Tại sao việc khẳng định rằng : “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa dựng nên trời và đất” (St 1,1) lại rất quan trọng ?

T- Bởi vì việc tạo dựng là nền tảng cho tất cả dự định cứu độ của Thiên Chúa. Tạo dựng là việc biểu lộ tình yêu toàn năng và khôn ngoan của Thiên Chúa ; đó là bước đầu tiên hướng đến Giao ước của Thiên Chúa duy nhất với dân Ngài ; đó là khởi điểm của lịch sử cứu độ, lịch sử này đạt tới chóp đỉnh nơi Chúa Giêsu ; đó là câu trả lời đầu tiên cho các vấn nạn căn bản của con người về nguồn gốc và cùng đích của mình.

52. H- Ai đã tạo dựng vũ trụ ?

T- Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là nguyên lý duy nhất và không thể phân chia của vũ trụ, mặc dù công trình tạo dựng vũ trụ được đặc biệt gán cho Chúa Cha.

 

GIÁO LÝ TUẦN 14 :

Chúa Nhật III Mùa Chay (07/03/2010)

53. H- Vũ trụ được dựng nên để làm gì ?

T- Vũ trụ được dựng nên để tôn vinh Thiên Chúa, Đấng đã muốn biểu lộ và thông ban lòng nhân hậu, chân lý và vẻ đẹp của Ngài. Mục đích tối hậu của việc tạo dựng là để Thiên Chúa, trong Đức Kitô, “có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28), vì vinh quang của Ngài và hạnh phúc của chúng ta.

54. H- Thiên Chúa đã sáng tạo vũ trụ như thế nào?

T- Thiên Chúa đã sáng tạo vũ trụ cách tự do, bằng sự khôn ngoan và tình yêu. Vũ trụ không phải là sản phẩm của một luật tất yếu nào đó, của một định mệnh mù quáng hoặc bởi ngẫu nhiên. Thiên Chúa đã sáng tạo “từ hư vô” (ex nihilo ; 2 Mcb 7,28), một thế giới được sắp xếp trật tự và tốt lành, nhưng Ngài vô cùng cao cả siêu việt trên mọi loài. Ngài gìn giữ vạn vật trong sự hiện hữu, nâng đỡ và ban cho nó khả năng hoạt động và hướng dẫn nó đến sự trọn hảo nhờ Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

55. H- Sự Quan phòng của Thiên Chúa là gì?

T- Sự Quan phòng của Thiên Chúa là những sắp xếp nhờ đó Thiên Chúa hướng dẫn các thụ tạo của mình đến chỗ hoàn hảo mà Ngài đã định cho chúng. Thiên Chúa là tác giả tối cao của kế hoạch Ngài ; nhưng để thực hiện kế hoạch đó, Ngài cũng sử dụng sự cộng tác của các thụ tạo. Đồng thời, Ngài ban cho chúng phẩm giá là tự hoạt động và trở thành nguyên nhân cho nhau.

56. H- Con người cộng tác vào sự Quan phòng của Thiên Chúa như thế nào ?

T- Tuy tôn trọng tự do của con người, nhưng Thiên Chúa ban cơ hội và đòi hỏi con người cộng tác với Ngài qua hành động, kinh nguyện và cả sự đau khổ của họ, khi gợi lên trong họ “ước muốn cũng như hành động theo lòng nhân hậu của Ngài” (Pl 2,13). 


GIÁO LÝ TUẦN 15 :

Chúa Nhật IV Mùa Chay (14/3/2010)

57. H- Nếu Thiên Chúa toàn năng và quan phòng, tại sao lại có sự dữ ?

T- Chỉ có toàn bộ đức tin Kitô mới có thể trả lời cho câu hỏi vừa bi thảm vừa mầu nhiệm này. Thiên Chúa không bao giờ là nguyên nhân của sự dữ, dù trực tiếp hay gián tiếp. Ngài làm sáng tỏ mầu nhiệm sự dữ nhờ Con Ngài là Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết và sống lại để chiến thắng sự dữ luân lý to lớn, là tội lỗi của con người, nguồn gốc của tất cả những sự dữ khác.

58. H- Tại sao Thiên Chúa lại cho phép sự dữ xuất hiện?

T- Đức tin giúp chúng ta xác tín rằng Thiên Chúa đã không cho phép sự dữ xuất hiện, nếu Ngài không làm phát sinh điều thiện hảo từ chính sự dữ đó. Điều này Thiên Chúa đã thực hiện cách tuyệt vời trong cái chết và sự sống lại của Đức Kitô. Thật vậy, từ sự dữ luân lý lớn nhất, là cái chết của Con Ngài, Ngài đã rút ra những điều thiện hảo vĩ đại nhất, đó là việc tôn vinh Đức Kitô và là ơn cứu chuộc chúng ta.

59. H- Thiên Chúa đã tạo dựng những gì ?

Thánh Kinh nói : “Lúc khởi đầu Thiên Chúa sáng tạo trời đất” (St 1,1). Trong bản tuyên xưng đức tin, Hội Thánh công bố Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo muôn vật hữu hình và vô hình, mọi loài thiêng liêng và vật chất, nghĩa là các thiên thần và vũ trụ hữu hình, và đặc biệt nhất là con người.

60. H- Các thiên thần là ai ?

T- Các thiên thần là những thụ tạo hoàn  toàn thiêng liêng, không có thân xác, vô hình và bất tử ; đó là những hữu thể có ngôi vị, có lý trí và ý chí. Các ngài không ngừng chiêm ngắm Thiên Chúa diện đối diện và tôn vinh Thiên Chúa ; các ngài phục vụ Thiên Chúa và là những sứ giả của Ngài để hoàn thành sứ vụ cứu độ loài người.

 

GIÁO LÝ TUẦN 16 :

Chúa Nhật V Mùa Chay (21/3/2010)

61. H- Các thiên thần hiện diện trong đời sống của Hội Thánh như thế nào ?

T- Hội Thánh liên kết với các thiên thần để tôn thờ Thiên Chúa ; Hội Thánh kêu cầu sự trợ giúp của các Ngài và trong phụng vụ, Hội Thánh kính nhớ một số vị trong các ngài.

“Bên cạnh mỗi tín hữu đều có một thiên thần làm Đấng bảo trợ và mục tử, hướng dẫn họ đến sự sống” (Thánh Basiliô Cả).

62. H- Thánh Kinh dạy gì về việc tạo dựng thế giới hữu hình ?

T- Qua chuyện kể “sáu ngày” tạo dựng, Thánh Kinh cho chúng ta biết giá trị của vũ trụ thụ tạo, và mục đích của nó là để tôn vinh Thiên Chúa và phục vụ con người. Mọi vật hiện hữu là nhờ Thiên Chúa, tất cả đều lãnh nhận từ Thiên Chúa sự tốt lành và hoàn hảo của mình, lề luật và vị trí của mình trong vũ trụ.

63. H- Đâu là vị trí của con người trong công trình tạo dựng ?

T- Con người là chóp đỉnh của các thụ tạo hữu hình, vì được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa.

64. H- Các thụ tạo liên hệ với nhau như thế nào ?

T- Theo ý Thiên Chúa, giữa các thụ tạo có mối liên hệ với nhau và một thứ bậc. Đồng thời cũng có một sự hợp nhất và liên đới giữa các thụ tạo, vì tất cả đều có cùng một Đấng Sáng Tạo, tất cả đều được Ngài yêu mến và được sắp xếp để tôn vinh Ngài. Vì thế, tôn trọng những lề luật đã được khắc ghi trong công trình tạo dựng và những mối tương quan phát xuất từ bản chất của mọi vật, là một nguyên tắc khôn ngoan và là một nền tảng của luân lý.

GIÁO LÝ TUẦN 17 :

Chúa Nhật Phục Sinh (04/4/2010)

65. H- Đâu là mối liên hệ giữa công trình tạo dựng và công trình cứu chuộc ?

T- Công trình tạo dựng đạt tới tột đỉnh trong một công trình còn vĩ đại hơn nữa, là công trình cứu chuộc. Thật vậy, công trình cứu chuộc  là khởi điểm cho việc tạo dựng mới, trong đó tất cả sẽ tìm được ý nghĩa trọn vẹn và sự viên mãn của mình.

66. H- Phải hiểu “Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa” theo nghĩa nào ?

T- Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa theo nghĩa họ có khả năng nhận biết và yêu mến một cách tự do Đấng Sáng Tạo nên mình. Trên mặt đất, chỉ có con người là thụ tạo đã được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ và mời gọi họ tham dự vào đời sống thần linh của Ngài nhờ nhận biết và yêu thương. Vì được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, con người có phẩm giá của một ngôi vị ; họ không phải là một sự vật, nhưng là một con người có khả năng nhận thức về bản thân mình, tự hiến mình cách tự do và đi vào sự hiệp thông với Thiên Chúa và với tha nhân.

67. H- Thiên Chúa dựng nên con người với mục đích nào ?

T- Thiên Chúa đã dựng nên tất cả cho con người, nhưng con người được dựng nên để nhận biết, phục vụ và yêu mến Thiên Chúa ; để ở trần gian, họ dâng lên Thiên Chúa mọi thụ tạo mà tạ ơn Ngài, và để họ được nâng lên sống với Thiên Chúa trên trời. Chỉ trong mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể mà mầu nhiệm về con người mới thực sự được sáng tỏ. Con người được tiền định để hoạ lại hình ảnh của Con Thiên Chúa làm người, Đấng là “hình ảnh trọn hảo của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15), hình ảnh trọn hảo.

68. H- Tại sao mọi người làm thành một loài người duy nhất ?

T- Tất cả mọi người làm thành một loài người duy nhất, vì họ có cùng một nguồn gốc, được lãnh nhận từ Thiên Chúa. Hơn nữa, Thiên Chúa, “đã tạo thành toàn thể nhân loại từ một người duy nhất” (Cv 17,26). Tất cả đều có một Đấng Cứu Độ duy nhất. Tất cả đều được mời gọi chia sẻ hạnh phúc vĩnh cửu của Thiên Chúa.

 

GIÁO LÝ TUẦN 18 :

Chúa Nhật II Phục Sinh (11/4/2010)

 

69. H- Trong con người, linh hồn và thể xác làm thành một thực thể duy nhất như thế nào ?

T- Con người là một hữu thể vừa có yếu tố thể xác, lại vừa có yếu tố tinh thần. Trong con người, tinh thần và vật chất tạo thành một bản thể duy nhất. Tính duy nhất này rất sâu xa đến độ, nhờ nguyên lý tinh thần là linh hồn, mà thể xác, vốn là vật chất, trở thành một thể xác con người sống động, và được dự phần vào phẩm giá “là hình ảnh của Thiên Chúa”.

70. H- Ai ban linh hồn cho con người ?

T- Linh hồn thiêng liêng không đến từ cha mẹ, nhưng được Thiên Chúa tạo dựng cách trực tiếp, và nó bất tử. Linh hồn lìa khỏi thể xác trong giờ chết, nhưng linh hồn không chết. Linh hồn sẽ tái hợp với thể xác trong ngày sống lại sau hết.

71. H- Thiên Chúa đã thiết lập mối liên hệ nào giữa người nam và người nữ ?

T- Người nam và người nữ được Thiên Chúa dựng nên với một phẩm giá ngang nhau là những nhân vị, và đồng thời họ bổ túc cho nhau trong tư cách là nam và nữ. Thiên Chúa đã muốn tạo dựng họ cho nhau, làm nên một sự hiệp thông các ngôi vị. Cả hai cùng được mời gọi truyền lại sự sống con người, khi cả hai trở nên “một xương một thịt” (St 2,24) trong hôn nhân, và được mời gọi làm chủ trái đất như những “người quản lý” của Thiên Chúa.

72. H- Tình trạng nguyên thủy của con người theo kế hoạch của Thiên Chúa là gì ?

T- Khi tạo dựng người nam và người nữ, Thiên Chúa đã cho họ thông phần cách đặc biệt vào đời sống thần linh của Ngài, trong sự thánh thiện và công chính. Trong kế hoạch của Thiên Chúa, con người lẽ ra không phải đau khổ, cũng không phải chết. Ngoài ra, có một sự hài hòa tuyệt hảo nơi chính bản thân con người, giữa thụ tạo với Đấng Tạo Hoá, giữa người nam với người nữ, cũng như giữa đôi vợ chồng đầu tiên với toàn thể thụ tạo.

 

GIÁO LÝ TUẦN 19 :

Chúa Nhật III Phục Sinh (18/4/2010)

 

73. H- Làm thế nào để hiểu được thực tại của tội lỗi?

T- Tội lỗi hiện diện trong lịch sử loài người. Một thực tại như thế chỉ được hiểu biết cách đầy đủ dưới ánh sáng của Mạc khải của Thiên Chúa, và nhất là dưới ánh sáng của Đức Kitô, Đấng Cứu Độ mọi người, Đấng làm cho ở đâu tội lỗi lan tràn thì ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội.

74. H- Sự sa ngã của các thiên thần là gì ?

T- Với cách diễn tả này, người ta muốn nói rằng Satan và các ma quỷ khác, được Thánh Kinh và Thánh Truyền nói đến, vốn là các thiên thần tốt lành do Thiên Chúa dựng nên, nhưng đã trở thành ác xấu, bởi vì, qua việc chọn lựa tự do và dứt khoát, chúng từ chối Thiên Chúa và Vương quyền của Ngài, và như thể làm phát sinh ra hỏa ngục. Chúng cố gắng lôi kéo con người vào cuộc nổi loạn chống lại Thiên Chúa ; nhưng trong Đức Kitô, Thiên Chúa xác nhận chiến thắng chắc chắn của Ngài trên Ác thần.

75. H- Tội lỗi đầu tiên của con người cốt tại điều gì ?

T- Con người, bị ma quỷ cám dỗ, đã dập tắt trong trái tim mình lòng tin tưởng đối với Đấng Tạo Hoá của mình. Khi không tuân phục Thiên Chúa, con người muốn trở nên “như Thiên Chúa”, mà không cần Thiên Chúa và không theo ý Thiên Chúa (St 3,5). Như thế, Ađam và Evà lập tức đánh mất, cho bản thân và cho tất cả dòng giống họ, ân sủng của sự thánh thiện và sự công chính nguyên thủy.

76. H- Tội tổ tông truyền là gì ?

T- Mọi người sinh ra đều mang tội tỏ tông truyền, cũng gọi là nguyên tội. Nguyên tội là tình trạng mất sự thánh thiện và công chính nguyên thủy. Đó là một tội mà chúng ta “mắc phải” chứ không phải là một tội mà chúng ta “phạm” ; đó là tình trạng khi sinh ra, chứ không phải là một hành vi cá nhân. Vì mọi người đều có cùng một nguồn gốc duy nhất, nên tội này được truyền lại cho dòng dõi Ađam cùng với bản tính loài người, “không phải là do bắt chước, nhưng qua truyền sinh”. Việc  truyền lại nguyên tội vẫn còn là một mầu nhiệm mà chúng ta không thể hiểu được trọn vẹn. 

 

GIÁO LÝ TUẦN 20 :

Chúa Nhật IV Phục Sinh (25/4/2010)

 

77. H- Những hậu quả khác do nguyên tội gây nên là gì?

T- Sau khi tổ tông đã phạm tội, bản tính con người không hoàn toàn bị hủy hoại, nhưng bị thương tật trong các sức lực tự nhiên của mình, u mê dốt nát, phải đau khổ, bị sự chết thống trị và hướng chiều về tội lỗi. Sự hướng chiều này được gọi là dục vọng (concupícentia).

78. H- Thiên Chúa đã làm gì sau tội đầu tiên của con người ?

T- Sau tội đầu tiên, thế gian đã bị tràn ngập tội lỗi, nhưng Thiên Chúa đã không bỏ rơi con người dưới quyền lực sự chết. Trái lại, Ngài đã tiên báo cách mầu nhiệm – trong “Tiền Tin Mừng” (x. St 3,15) rằng sự dữ sẽ bị đánh bại và con người sẽ được nâng dậy từ sa ngã. Đó là lời tiên báo đầu tiên về Đấng Mêsia cứu chuộc. Vì thế, chúng ta đã gọi sự sa ngã là “tội hồng phúc” (felix culpa), vì “nhờ có tội, ta mới có được Đấng Cứu Chuộc cao cả dường này”(Phụng vụ đêm Canh thức Vượt Qua).

79. H- Tin Mừng cho con người là gì ?

T- Đó là lời loan báo về Đức Giêsu Kitô, “Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), Đấng đã chết và đã sống lại. Vào thời vua Hêrôđê và hoàng đế Xêdarê Augustô, Thiên Chúa đã thực hiện những lời Ngài đã hứa với Abraham và dòng dõi ông, khi sai “Con Mình tới, sinh làm con một người nữ và sống dưới lề luật, để chuộc những ai sống dưới lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Ga 4,4-5).

80. H- Tin Mừng này được loan đi như thế nào ?

T- Ngay từ đầu, các môn đệ tiên khởi đã khao khát loan báo Đức Giêsu Kitô, nhằm làm cho mọi người tin vào Người. Ngày nay cũng thế, sự hiểu biết say mê Đức Kitô làm nảy sinh nơi các tín hữu niềm khao khat rao giảng Tin mừng và huấn giáo, nghĩa là giúp mọi người nhận thấy tất cả kế hoạch của Thiên Chúa trong con người Chúa Giêsu và dẫn đưa nhân loại đến hiệp thông với Người.

 

GIÁO LÝ TUẦN 21 :

Chúa Nhật V Phục Sinh (02/5/2010)

 

81. H- Danh Thánh “Giêsu” nghĩa là gì ?

T- Danh Thánh Giêsu, được thiên thần đặt ngay từ lúc Truyền tin, có nghĩa là “Thiên Chúa cứu độ”. Danh Thánh này nói lên căn tính và sứ mạng của Chúa Giêsu, vì “chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội” (Mt 1,21). Thánh Phêrô khẳng định rằng “dưới gầm trời này không có danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta nhờ vào Danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12).

82. H- Tại sao Chúa Giêsu được gọi là “Đấng Kitô”?

T- “Kitô” là tiếng Hy Lạp, còn “Mêsia” là tiếng Hypri, có nghĩa là “được xức dầu”. Chúa Giêsu là Đấng Kitô vì Người được Thiên Chúa thánh hiến, được xức dầu bằng Chúa Thánh Thần để đảm nhận sứ mạng cứu chuộc của Người. Người là Đấng Mêsia mà dân Israel mong đợi, được Chúa Cha sai đến trần gian. Chúa Giêsu đã chấp nhận tước hiệu Mêsia, nhưng đã xác định rõ ràng ý nghĩa tước hiệu này : “từ trời xuống” (Ga 3,13), chịu đóng đinh rồi sống lại, Người là Tôi Trung Đau Khổ, “hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28). Từ tước hiệu Kitô này, chúng ta được mang danh hiệu là người Kitô hữu.

83. H- Chúa Giêsu là “Con Một Thiên Chúa” theo ý nghĩa nào ?

T- Chúa Giêsu là “Con Một Thiên Chúa” theo một ý nghĩa duy nhất và trọn hảo. Vào lúc Người chịu Phép Rửa và trong cuộc Hiển Dung, tiếng của Chúa Cha cho thấy Chúa Giêsu là “Con yêu dấu” của Ngài. Khi Chúa Giêsu tự giới thiệu mình là người Con “biết Chúa Cha” (Mt 11,27), Người khẳng định mối tương quan duy nhất và vĩnh cửu của mình với Thiên Chúa là Cha của Người. “Người là Con duy nhất của Thiên Chúa” (1 Ga 4,9), là Ngôi Hai trong Ba Ngôi. Người là trung tâm lời rao giảng của các thánh Tông đồ: các Tông đồ đã nhìn thấy “vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cha Người, là Con Một” (Ga 1,14).

84.H-Tước hiệu “Đức Chúa” có ý nghĩa là gì?

Trong Thánh Kinh, thường tước hiệu này chỉ Thiên Chúa tối cao. Chúa Giêsu tự nhận cho mình tước hiệu này và mạc khải quyền tối thượng thần linh của Người qua quyền năng của Người trên thiên nhiên, trên ma quỷ, trên tội lỗi và trên cái chết, và nhất là qua cuộc Phục sinh của Người. Những lời tuyên tín đầu tiên của các người Kitô hữu công bố rằng quyền năng, danh dự và vinh quang dành cho Thiên Chúa Cha cũng thuộc về Chúa Giêsu, Đấng mà Thiên Chúa “đã ban tặng danh hiệu trổi vượt trên mọi danh hiệu” (Pl 2,9). Người là Đức Chúa của trần gian và của lịch sử, là Đấng duy nhất mà mọi người, với sự tự do của mình, phải hoàn toàn tùng phục.

85. H- Tại sao Con Thiên Chúa đã làm người ?

T- Con Thiên Chúa đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria bởi phép Chúa Thánh Thần, vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, nghĩa là để chúng ta, là những kẻ tội lỗi, được giao hòa với Thiên Chúa, để cho chúng ta biết được tình thương vô bờ bến của Ngài, để trở nên mẫu gương cho chúng ta về sự thánh thiện và để làm cho chúng ta trở thành những người “được thông phần bản tính Thiên Chúa” (2 Pr 1,4).

 

GIÁO LÝ TUẦN 22 :

Chúa Nhật VI Phục Sinh (09/5/2010)

 

86. H- Hai tiếng “Nhập Thể” có nghĩa là gì?

T- Hội Thánh dùng từ “Nhập Thể” để gọi mầu nhiệm sự kết hợp tuyệt với của thần tính và nhân tính trong Ngôi vị thần linh duy nhất của Ngôi Lời. Để thực hiện Ngôi vị thần linh duy nhất của Ngôi Lời. Để thực hiện công cuộc cứu độ chúng ta, Con Thiên Chúa đã hóa thành “xác thể” (Ga 1,14), trở thành con người thật. Tin vào mầu nhiệm Nhập Thể là dấu hiệu đặc trưng của đức tin Kitô giáo.

87. H- Đức Giêsu Kitô vừa là Thiên Chúa thật, vừa là người thật như thế nào ?

T- Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và  là người thật, không thể tách ri nhau trong sự duy nhất của Ngôi vị Thiên Chúa của Người. Chính Người là Con Thiên Chúa, là Đấng “được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha”, Người thật sự trở thành con người, trở thành anh em của chúng ta, mà vẫn không ngừng là Thiên Chúa, là Đức Chúa của chúng ta.

88. H- Công đồng Chalcedonia (năm 451) dạy gì về vấn đề này ?

T- Công đồng Chalcedonia dạy chúng ta phải tuyên xưng : “một Chúa Con duy nhất, là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, hoàn hảo trong thần tính, và cũng hoàn hảo trong nhân tính, là Thiên Chúa thật và là người thật, gồm có một linh hồn có lý trí và một thân xác ; đồng bản thể với Chúa Cha theo thần tính mà cũng đồng bản thế với chúng ta theo nhân tính, “giống chúng ta về mọi phương diện ngoại trừ tội lỗi” (Dt 4,15), sinh bởi Đức Chúa Cha theo thần tính từ trước muôn đời, và trong những thời cuối cùng này, vì chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người được sinh ra theo nhân tính từ Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa”.

89. H- Hội Thánh diễn tả mầu nhiệm Nhập thể như thế nào ?

T- Hội Thánh diễn tả mầu nhiệm này khi xác quyết rằng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật, với hai bản tính là thần  tính và nhân tính, không lẫn lộn, nhưng kết hợp trong Ngôi Lời. Vì thế, trong nhân tính của Chúa Giêsu, tất cả - các phép lạ, đau khổ và cái chết - đều được quy về Ngôi vị thần linh của Người, Đấng hoạt động qua nhân tính mà Ngôi vị này đảm nhận.

“Lạy Con duy nhất và Ngôi Lời của Thiên Chúa, dù bất tử, nhưng để cứu độ chúng con, Chúa đã đoái thương nhập thể trong lòng Đức Maria, Mẹ rất thánh của Thiên Chúa và trọn đời đồng trinh... Chúa là Một trong Ba Ngôi chí thánh, được tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, xin cứu độ chúng con!”(Phụng vụ Byzantin của Thánh Gioan Kim Khẩu)

90. H- Có phải Con Thiên Chúa làm người có một linh hồn với tri thức nhân loại không?

T- Con Thiên Chúa đã đảm nhận một thân xác được một linh hồn nhân loại có tri thức làm cho sinh động. Với tri thức nhân loại, Chúa Giêsu đã học hỏi nhiều qua kinh nghiệm. Nhưng cũng với tư cách là con người, Con Thiên Chúa có một sự hiểu biết thâm sâu và trực tiếp về Thiên Chúa, Cha của Người. Người cũng nhìn thấu những tư tưởng thầm kín của con người và hiểu biết đầy đủ các ý định muôn thuở mà Người đến để mạc khải.

 

GIÁO LÝ TUẦN 23 :

Chúa Nhật Chúa Thăng Thiên (16/5/2010)

 

91. H- Hai ý muốn nơi Ngôi Lời Nhập thể hợp tác với nhau như thế nào ?

T- Chúa Giêsu có một ý muốn thần linh và một ý muốn nhân loại. Trong cuộc sống nơi trần gian, Con Thiên Chúa đã muốn, theo nhân tính, điều mà Người đã quyết định, theo thần tính, với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần về ơn cứu độ chúng ta. Ý muốn nhân loại của Đức Kitô luôn theo ý muốn thần linh, không miễn cưỡng, không đối kháng, và hơn nữa, ý muốn nhân loại của Người đã tùng phục ý muốn thần linh.

92. H- Đức Kitô có một thân xác con người thật không ?

T- Đức Kitô đã đảm nhận một thân xác con người thật, qua đó Thiên Chúa vô hình đã trở nên hữu hình. Vì thế, Đức Kitô có thể được trình bày và tôn kính qua các ảnh tưng thánh.

93. H- Trái tim của Đức Kitô nói lên điều gì?

T- Đức Kitô biết và yêu thương chúng ta bằng một trái tim của con người. Trái tim của người bị đâm thâu để cứu độ chúng ta, là biểu trưng cho tình yêu vô biên của Người đối với Chúa Cha và đối với mỗi người.

94. H- Câu “Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai...” có ý nghĩa gì?

T- Câu này có nghĩa là Đức Trinh Nữ Maria đã thụ thai trong lòng mình Người Con Vĩnh Cửu bởi tác động của Chúa Thánh Thần chứ không có sự cộng tác của một người nam : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà” (Lc 1,35), đó là lời thiên thần đã nói với Đức Maria lúc Truyền tin.

95. H- “Sinh bởi Bà Maria Đồng Trinh” : tại sao Đức Maria thực sự là Mẹ Thiên Chúa ?

T- Đức Maria thật sự là Mẹ Thiên Chúa bởi vì là Mẹ của Chúa Giêsu (Ga 2,1 ; 19,25). Thật vậy, Đấng mà Mẹ đã thụ thai bởi tác động của Chúa Thánh Thần và đã thực sự trở nên con của Mẹ, chính là Con hằng hữu của Thiên Chúa Cha. Chính Người là Thiên Chúa.

 

GIÁO LÝ TUẦN 24 :

Chúa Nhật Hiện Xuống (23/5/2010)

 

96. H- “Vô Nhiễm Nguyên Tội” nghĩa là gì?

T- Từ muôn thuở và một cách hoàn toàn nhưng không, Thiên Chúa đã chọn Đức Maria làm Mẹ của Con mình. Để chu toàn sứ mạng này, Mẹ đã được ơn vô nhiễm ngay từ lúc được thụ thai. Điều này có nghĩa là nhìn thấy trước công nghiệp của Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã ban ân sủng gìn giữ Đức Maria khỏi tội nguyên tổ ngay từ lúc được thụ thai.

97. H- Đức Maria cộng tác vào kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa như thế nào ?

T- Nhờ ân sủng của Thiên Chúa, Đức Maria, suốt đời vẫn tinh tuyền không hề phạm một tội riêng nào. Mẹ là “Đấng đầy ân phúc” (Lc 1,28), “Đấng hoàn toàn thánh thiện”. Khi Thiên Thần báo tin rằng Mẹ sẽ sinh “Con Đấng Tối cao” (Lc 1,32), Mẹ đã tự do chấp nhận với “sự vâng phục của đức tin” (Rm 1,5). Đức Maria tự hiến hoàn toàn cho con người và công trình của Chúa Giêsu, Con của Mẹ, và với trọn tâm hồn, Mẹ chấp nhận ý định cứu độ của Thiên Chúa.

98. H- Chúa Giêsu được thụ thai đồng trinh nghĩa là gì?

T- Điều này có nghĩa là Chúa Giêsu được thụ thai trong lòng Đức Trinh Nữ chỉ do quyền năng của Chúa Thánh Thần mà thôi, không có sự can thiệp của người nam. Người là Con Chúa Cha trên trời theo thần tính, là Con của Đức Maria theo nhân tính, nhưng thực sự là Con Thiên Chúa trong hai bản tính, vì nơi Người chỉ có một Ngôi vị duy nhất, là ngôi vị thần linh.

99. H- Câu “Đức Maria trọn đời đồng trinh” có ý nghĩa gì ?

T- “Đức Maria trọn đời đồng trinh” có nghĩa là Mẹ “vẫn còn đồng trinh khi thụ thai Con mình, đồng trinh khi sinh Con, đồng trinh khi bồng ẵm Người, đồng trinh khi cho con Người bú mớm, là người mẹ đồng trinh, vĩnh viễn đồng trinh” (Thánh Augustinô). Khi các Tin Mừng nói về “anh chị em của Chúa Giêsu” thì đó là những người bà con họ hàng gần của Chúa Giêsu, theo như cách nói quen dùng trong Thánh Kinh.

100. H- Đức Maria là Mẹ thiêng liêng của mọi người thế nào  ?

T- Đức Maria chỉ có một người Con duy nhất, là Chúa Giêsu, nhưng trong Người, Mẹ là Mẹ thiêng liêng của mọi người đã được Chúa Giêsu đến cứu độ. Vâng phục bên cạnh Ađam mới là Đức Giêsu Kitô, Đức Trinh Nữ là bà Evà mới, bà mẹ đích thực của chúng sinh. Với tình yêu từ mẫu, Mẹ cộng tác vào việc sinh hạ và nuôi dưỡng họ trong lĩnh vực ân sủng. Vừa là Trinh Nữ vừa là Mẹ, Đức Maria là hình ảnh của Hội Thánh, là sự thể hiện toàn hảo nhất của Hội Thánh.

 

GIÁO LÝ TUẦN 25 :

Chúa Nhật 9 Thường Niên (30/5/2010)

 

101. H- “Cả cuộc đời Đức Kitô là một Mầu nhiệm” nghĩa là gì ?

T- Cả cuộc đời Đức Kitô là một mạc khải. Điều có thể thấy được trong cuộc đời trần thế của Người dẫn chúng ta đến Mầu nhiệm vô hình, nhất là Mầu nhiệm Con Thiên Chúa của Người : “Ai thấy Tôi là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9). Đàng khác, mặc dù ơn cứu độ đã được hoàn thành trọn vẹn qua thập giá và cuộc phục sinh, nhưng trọn cuộc đời của Đức Kitô là Mầu nhiệm cứu độ, vì tất cả những gì Chúa Giêsu đã làm, đã nói và đã chịu đau khổ đều có mục đích là để cứu độ loài người sa ngã và để tái lập họ trong ơn gọi làm con Thiên Chúa.

102. H- Các mầu nhiệm của Chúa Giêsu đã được chuẩn bị như thế nào ?

T- Trước hết, đã có một thời gian hy vọng lâu dài qua nhiều thế kỷ, mà chúng ta lại sống khi cử hành Phụng vụ Mùa Vọng. Ngoài sự chờ đợi chưa rõ ràng mà Thiên Chúa đã đặt trong tâm hồn các người ngoại giáo, Thiên Chúa đã chuẩn bị cho việc Con Ngài ngự đến qua Giao ước cũ, cho đến thời ông Gioan Tẩy Giả, là người cuối cùng và lớn nhất trong các tiên tri.

103. H- Tin mừng về mầu nhiệm Giáng Sinh và thời thơ ấu của Chúa Giêsu dạy chúng ta điều gì ?

T- Vào lúc Giáng Sinh, vinh quang thiên quốc được tỏ lộ trong sự yếu đuối của một hài nhi. Phép cắt bì Chúa Giêsu đã lãnh nhận là dấu chỉ Người thuộc về dân Do Thái và là việc báo trước Bí Tích Rửa Tội của chúng ta. Hiển Linh là việc Đức Mêsia của Israel tỏ mình ra cho muôn dân. Lúc dâng Chúa vào trong Đền Thờ, người ta nhận ra nơi ông Simêon và bà Anna sự chờ đợi của dân Israel, nay đến gặp gỡ Đấng Cứu Độ của mình. Cuộc trốn sang Ai Cập và sự kiện tàn sát trẻ vô tội báo trước cả cuộc đời của Đức Kitô sẽ chịu nhiều bách hại. Việc Người rời bỏ Ai Cập để trở về nhắc lại cuộc Xuất hành và giới thiệu Đức Kitô như ông Môsê mới : Người là Đấng giải phóng đích thực và tối hậu.

104. H- Quãng đời ẩn dật của Chúa Giêsu tại Nazareth dạy chúng ta điều gì ?

T- Suốt cuộc đời ẩn dật ở Nazareth, Chúa Giêsu đã âm thầm sống một cuộc sống bình thường. Như vậy, Người cho chúng ta được hiệp thông với Người trong sự thánh thiện của đời sống thường ngày được dệt bằng lời cầu nguyện, sự đơn sơ, lao động, tình yêu gia đình. Việc vâng phục của Người đối với Đức Maria và Thánh Giuse, cha nuôi của Người, là hình ảnh của sự vâng phục con thảo của Người đối với Chúa Cha. Với đức tin, Đức Maria và Thánh Giuse đón nhận mầu nhiệm của Chúa Giêsu, dù rằng không phải lúc nào các ngài cũng hiểu được mầu nhiệm ấy.

 

GIÁO LÝ TUẦN 26 :

Chúa Nhật 10 Thường niên (06/6/2010)

 

105. H- Tại sao Chúa Giêsu lãnh nhận từ tay ông Gioan “phép rửa tỏ lòng hối cải để được ơn tha tội” (Lc 3,3) ?

T- Để khởi đầu quãng đời công khai và để báo trước Phép Rửa là cái chết của mình, Chúa Giêsu, dù không có tội lỗi nào, và là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1,29), cũng chấp nhận bị liệt vào hàng tội nhân. Chúa Cha tuyên bố Người là “Con yêu dấu” của mình (Mt 3,17) và Thánh Thần ngự xuống trên Người. Phép Rửa của Chúa Giêsu là hình ảnh báo trước bí tích Rửa Tội của chúng ta.

106. H- Những cơn cám dỗ của Chúa Giêsu trong sa mạc nói lên điều gì ?

T- Những cám dỗ Chúa Giêsu phải chịu trong sa mạc thu tóm cơn cám dỗ của Ađam trong vườn địa đàng và những cơn cám dỗ của dân Israel trong sa mạc. Satan cám dỗ Chúa Giêsu về sự vâng phục sứ vụ mà Chúa Cha đã giao phó cho Người. Đức Kitô, Ađam mới, đã chống lại cơn cám dỗ, và chiến thắng của Người báo trước chiến thắng của cuộc khổ nạn, là sự vâng phục tuyệt đối trong tình yêu con thảo của Người. Trong thời gian phụng vụ Mùa Chay, Hội Thánh kết hợp với mầu nhiệm này cách đặc biệt.

107. H- Ai được mời gọi tham dự vào Nước Thiên Chúa được Chúa Giêsu loan báo và thực hiện ?

T- Chúa Giêsu mời gọi mọi người gia nhập Nước Thiên Chúa. Cả kẻ xấu xa nhất trong các tội nhân cũng được mời gọi hối cải và đón nhận lòng thương xót vô biên của Chúa Cha. Ngay trên mặt đất này, Nước Thiên Chúa đã thuộc về những ai đón nhận với tâm hồn khiêm tốn. Chính cho những người này, những mầu nhiệm của Nước Thiên Chúa được mạc khải.

108. H- Tại sao Chúa Giêsu biểu lộ Nước Trời bằng các dấu chỉ và phép lạ ?

T- Chúa Giêsu làm các dấu chỉ và phép lạ kèm theo lời của Người, để chứng tỏ rằng Nước Trời đang hiện diện nơi Người, là Đấng Mêsia. Mặc dù đã chữa lành một số bệnh nhân, Người không đến để loại trừ mọi cái xấu ra khỏi trái đất, nhưng trước hết là để giải phóng con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Cuộc chiến đấu chống lại ma quỷ báo trước rằng thập giá của Người sẽ chiến thắng “thủ lãnh thế gian” (Ga 12,31).

 

GIÁO LÝ TUẦN 27 :

Chúa Nhật 11 Thường niên (13/6/2010)

 

109. H- Trong Nước Trời, Chúa Giêsu đã trao quyền hành nào cho các Tông đồ của Người ?

T- Chúa Giêsu chọn Nhóm Mười Hai, những người sẽ là chứng nhân cho cuộc phục sinh của Người. Người cho họ tham dự vào sứ vụ và quyền hành của Người để dạy dỗ, tha thứ tội lỗi, xây dựng và điều khiển Hội Thánh. Trong nhóm này, Thánh Phêrô lãnh nhận “chìa khóa Nước Trời” (Mt 16,19) và chiếm địa vị thứ nhất, có sứ mạng gìn giữ đức tin được toàn vẹn và làm cho các anh em mình nên vững mạnh.

110. H- Việc Hiển Dung có ý nghĩa gì ?

T- Trước hết, Thiên Chúa Ba Ngôi xuất hiện trong cuộc Hiển Dung : “Chúa Cha trong tiếng nói, Chúa Con trong nhân tính của mình, Chúa Thánh Thần trong đám mây sáng chói” (Thánh Tôma Aquinô). Khi nói với ông Môsê và ông Êlia về cuộc “ra đi của mình” (Lc 9,31), Chúa Giêsu cho thấy rằng vinh quang của Người phải đi qua thập giá ; và Người báo trước cuộc phục sinh và cuộc trở lại trong vinh quang của Người, khi Người “sẽ biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,21).

111. H- Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem với tư cách là Đấng Mêsia như thế nào ?

T- Vào thời gian đã định, Chúa Giêsu quyết lên Giêrusalem để chịu khổ nạn, chịu chết và sống lại từ cõi chết. Với tư cách là Đức Mêsia-Vua, Đấng loan báo Nước Thiên Chúa đến, Người đi vào thành của Người, cưỡi trên một con lừa. Những kẻ bé mọn đón rước Người bằng lời tung hô mà về sau được đưa vào kinh “Thánh ! Thánh ! Thánh !” trong Thánh lễ : “Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa. Hosana (xin cứu độ chúng con)”. Phụng vụ Hội Thánh khởi đầu Tuần Thánh bằng việc cử hành biến cố này.

112. H- Mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Giêsu có tầm quan trọng nào ?

T- Mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Giêsu, bao gồm cuộc khổ nạn, cái chết, sự phục sinh và tôn vinh của Người, là trung tâm của đức tin Kitô giáo. Vì ý định cứu độ của Thiên Chúa được hoàn tất một lần thay cho tất cả nhờ cái chết cứu độ của Con Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô.

 

GIÁO LÝ TUẦN 28 :

Chúa Nhật 12 Thường niên (20/6/2010)

 

113. H- Chúa Giêsu bị kết án vì những lời tố cáo nào ?

T- Một số thủ lãnh Israel đã kết án Chúa Giêsu chống lại Lề Luật, chống lại Đền thờ Giêrusalem và đặc biệt chống lại niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất, bởi vì  Người tự xưng mình là Con của Thiên Chúa. Chính vì thế họ đã nộp Người cho quan Philatô, để Người bị kết án tử hình.

114. H- Đâu là thái độ của Chúa Giêsu đối với Lề luật Israel ?

T- Chúa Giêsu không hủy bỏ Lề luật do Thiên Chúa trao ban cho ông Môsê trên núi Sinai, nhưng Người đã làm cho Lề luật nên trọn bằng cách đem lại cho Lề luật lời giải thích tối hậu. Người là Đấng ban hành Lề luật của Thiên Chúa, Đấng chu toàn Lề luật cách viên mãn. Ngoài ra, qua cái chết đền tội trong vai trò Người Tôi Trung, Người hiến dâng hy tế duy nhất có khả năng cứu chuộc tất cả “tội lỗi người ta đã phạm trong thời Giao ước đầu tiên” (Dt 9,15).

115. H- Chúa Giêsu đã có thái độ nào đối với Đền thờ Giêrusalem ?

T- Chúa Giêsu bị kết án là có thái độ thù nghịch với Đền thờ. Thực ra, Người đã tôn trọng Đền thờ như là “nhà của Cha mình” (Ga 2,16). Chính tại đó, Người đã giảng dạy một phần giáo huấn quan trọng của Người. Nhưng Người cũng báo trước đền thờ sẽ bị tàn phá, trong liên hệ với cái chết của Người. Người tự giới thiệu mình là nơi ở vĩnh viễn của Thiên Chúa giữa loài người.

116. H- Chúa Giêsu có đi ngược với niềm tin của Israel vào Thiên Chúa duy nhất và là Đấng cứu độ hay không?

T- Chúa Giêsu không bao giờ đi ngược với niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất, cả khi Người tha thứ tội lỗi, nghĩa là làm công việc đặc thù của Thiên Chúa, công việc thực hiện các lời hứa về Đấng Mêsia và mạc khải Người ngang hàng với Thiên Chúa. Việc Chúa Giêsu mời gọi tin vào Người và ăn năn hối cải, giúp chúng ta nhận ra tại sao Công nghị đã hiểu lầm Người cách bi thảm, nên cho rằng Người đáng phải chết vì là kẻ nói phạm thượng.

GIÁO LÝ TUẦN 29 :

Chúa Nhật 13 Thường niên (27/5/2010)

 

117. H- Ai chịu trách nhiệm về cái chết của Chúa Giêsu?

T- Không thể quy trách nhiệm cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu một cách không phân biệt cho mọi người Do Thái thời đó, cũng như cho con cháu họ sau này. Mỗi tội nhân, nghĩa là mọi người, thực sự là nguyên nhân và công cụ gây nên những đau khổ của Đấng Cứu Chuộc. Chịu trách nhiệm nặng nề hơn nữa là những người, đặc biệt nhất là các người Kitô hữu, thường xuyên sa ngã phạm tội và ham thích những thói xấu.

118. H- Tại sao cái chết của Chúa Giêsu lại nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa ?

T- Để tất cả mọi người, là những kẻ đáng chết vì tội lỗi, được giao hòa với Ngài, Thiên Chúa đã khởi xướng một việc đầy yêu thương là sai Con của Ngài đến phó mình chịu chết vì những kẻ tội lỗi. Cái chết của Đức Kitô đã được loan báo trong Cựu Ước, đặc biệt như hy tế của Người Tôi trung đau khổ, đã xảy ra “theo như lời Thánh Kinh.”

119. H- Đức Kitô đã dâng hiến chính mình cho Chúa Cha như thế nào ?

T- Đức Kitô đã tự do dâng hiến tất cả đời sống cho Chúa Cha, để chu toàn ý định cứu độ của Ngài. Đức Kitô đã “hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45). Nhờ đó, Người làm cho toàn thể nhân loại được giao hoà với Thiên Chúa. Sự đau khổ và cái chết của Người cho thấy nhân tính của Người là dụng cụ tự do và hoàn hảo của tình yêu Thiên Chúa muốn cứu độ mọi người.

120. H- Việc dâng hiến của Chúa Giêsu được diễn tả như thế nào trong Bữa Tiệc Ly?

T- Trong Bữa Tiệc Ly với các Tông đồ vào buổi tối trước cuộc Khổ nạn, Chúa Giêsu đã làm trước, nghĩa là Người ám chỉ và thực hiện trước, việc tự nguyên dâng hiến chính mình : “Đây là Mình Thầy bị nộp vì anh em” (Lc 22,19) ; “Đây là Máu Thầy đổ ra...” (Mt 26,28). Như thế, Người vừa thiết lập bí tích Thánh Thể như việc “tưởng nhớ” (1 Cr 11,25) đến hy tế của Người, vừa đặt các Tông đồ của Người làm tư tế của Giao ước mới.

 

GIÁO LÝ TUẦN 30 :

Chúa Nhật 14 Thường niên (04/7/2010)

 

121. H- Điều gì đã xảy ra trong cơn hấp hối nơi vườn Giếtsêmani ?

T- Mặc dầu nhân tính rất thánh của Đấng “khơi nguồn sự sống” (Cv 3,15) đã khiếp sợ sự chết, nhưng ý chí nhân loại của Con Thiên Chúa vẫn tùng phục thánh ý Chúa Cha : để cứu độ chúng ta, Chúa Giêsu chấp nhận gánh lấy tội lỗi chúng ta trong thân xác mình, Người “vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết” (Pl 2,8).

122. H- Hiệu quả hy tế của Đức Kitô dâng trên thập giá là gì ?

T- Chúa Giêsu tự nguyện hiến dâng mạng sống mình làm hy lễ đền tội, nghĩa là Người đền bù tội lỗi chúng ta bằng sự vâng phục trọn vẹn của Người vì tình yêu cho đến chết. Tình “Yêu thương đến cùng” (Ga 13,1) của Con Thiên Chúa đã cho toàn thể nhân loại được giao hòa với Chúa Cha. Như vậy, hy lễ vượt qua của Đức Kitô cứu chuộc mọi người cách độc nhất vô nhị, hoàn hảo và tối hậu, và mở lối cho họ vào sự hiệp thông với Thiên Chúa.

123. H- Tại sao Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ vác lấy thập giá của họ ?

T- Khi kêu gọi các môn đệ vác thập giá mình mà theo Người, Chúa Giêsu muốn những người đầu tiên hưởng nhờ hy tế cứu độ của Người được kết hợp với hy tế ấy.

124. H- Thân xác của Chúa Giêsu ở trong tình trạng nào khi Người nằm trong mồ ?

T- Đức Kitô đã chết thật sự và đã được mai táng thật sự. Nhưng quyền năng Thiên Chúa đã gìn giữ thân xác Người khỏi bị hư nát.

125. H- “Ngục tổ tông” mà Chúa Giêsu đi xuống là gì ?

T- “Ngục tổ tông” - khác với hỏa ngục của án phạt - là tình trạng của những người chết trước thời của Chúa Giêsu, dù họ công chính hay xấu xa. Với linh hồn được kết hợp với Ngôi vị thần linh, Chúa Giêsu xuống với những người công chính trong ngục tổ tông, là những người đang mong chờ Đấng Cứu Chuộc họ, để cuối cùng họ có thể đạt được sự hưởng kiến Thiên Chúa. Sau khi nhờ cái chết của Người, Chúa Giêsu đã chiến thắng cả sự chết lẫn ma quỷ là “lãnh chúa gây ra sự chết” (Dt 2,14), Người giải thoát những người công chính đang mong chờ Đấng Cứu Chuộc, và Người mở cửa trời cho họ.

 

GIÁO LÝ TUẦN 31 :

Chúa Nhật 15 Thường niên (11/7/2010)

 

126. H- Cuộc Phục sinh của Chúa Giêsu có vị trí nào trong đức tin của chúng ta ?

T- Cuộc Phục Sinh là chân lý cao cả nhất của đức tin chúng ta vào Đức Kitô. Với thập giá, cuộc Phục sinh là phần thiết yếu của Mầu nhiệm Vượt qua.

127. H- Những “dấu chỉ” nào làm chứng cho cuộc Phục sinh của Chúa Giêsu ?

T- Ngoài dấu chỉ chính yếu là mồ trống, cuộc Phục sinh của Chúa Giêsu được làm chứng bởi một số phụ nữ là những người đầu tiên đã gặp gỡ Người và đã báo tin cho các Tông đồ. Tiếp đó, Chúa Giêsu đã “hiện ra với ông Kêpha (tức là thánh Phêrô), rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt” (1Cr 15,5-6) và với nhiều người khác nữa. Các Tông đồ đã không thể bày đặt ra chuyện Phục Sinh, vì đối với họ, Phục sinh là chuyện không thể có được. Quả thật, Chúa Giêsu cũng đã trách cứ sự cứng lòng tin của họ.

128. H- Tại sao Phục sinh cũng là một biến cố siêu việt?

T- Tuy là một sự kiện mang tính lịch sử, có thể xác định và chứng thực qua các dấu chỉ và lời chứng, nhưng vì là việc nhân tính của Đức Kitô bước vào vinh quang của Thiên Chúa, nên Phục sinh cũng siêu việt và vượt qua lịch sử, thực sự là mầu nhiệm đức tin. Chính vì thế, Đức Kitô Phục sinh không tỏ mình ra cho thế gian, nhưng chỉ cho các môn đệ Người, làm cho họ trở thành những chứng nhân của Người trước mặt dân chúng.

129. H- Thân xác Phục sinh của Chúa Giêsu ở trong tình trạng nào ?

T- Sự Phục Sinh của Đức Kitô không phải là một cuộc trở lại đời sống trần thế. Thân xác phục sinh của Người, cũng chính là thân xác đã chịu đóng đinh, và vẫn mang vết tích của cuộc khổ nạn, nhưng từ lúc phục sinh, thân xác này được tham gia vào đời sống thần linh với những đặc điểm của một thân xác vinh hiển. Vì thế, Đức Giêsu Kitô Phục Sinh tuyệt đối tự do khi hiện ra với các môn đệ, như Người muốn và ở nơi Người muốn, dưới nhiều hình dạng khác nhau.

 

GIÁO LÝ TUẦN 32 :

Chúa Nhật 16 Thường niên (18/7/2010)

130. H- Sự Phục Sinh là công trình của Ba Ngôi Cực thánh theo cách nào ?

T- Sự Phục sinh của Đức Kitô là một hành động siêu việt của Thiên Chúa. Cả ba Ngôi cùng hoạt động chung theo tính cách riêng biệt của mỗi Ngôi : Chúa Cha biểu lộ quyền năng của mình ; Chúa Con “lấy lại” sự sống mà Người đã tự ý dâng hiến (Ga 10,17) bằng cách kết hợp linh hồn và thân xác mình, mà Chúa Thánh Thần làm cho sống động và tôn vinh.

131. H- Đâu là ý nghĩa và ảnh hưởng của cuộc Phục sinh đối với ơn cứu độ ?

T- Phục sinh là chóp đỉnh của mầu nhiệm Nhập Thể, xác nhận thần tính của Đức Kitô cũng như tất cả những gì Người đã làm và giảng dạy. Cuộc Phục Sinh thực hiện tất cả các lời Thiên Chúa đã hứa vì lợi ích của chúng ta. Hơn nữa, Đấng Phục Sinh, Đấng chiến thắng tội lỗi và cái chết, là nguyên lý cho việc công chính hóa và sự phục sinh của chúng ta. Ngay từ bây giờ, Phục sinh mang lại cho chúng ta ơn được làm nghĩa tử Thiên Chúa, nghĩa là được thực sự tham dự vào sự sống của Con Ngươi Một, Đấng sẽ làm cho thân xác chúng ta được sống lại vào ngày tận thế.

132. H- Việc Đức Kitô lên trời có ý nghĩa gì?

T- Trong vòng bốn mươi ngày, Đức Kitô hiện ra với các tông đồ dưới hình dạng con người bình thường, che giấu vinh quang của Đấng phục sinh, sau đó Người lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa Cha. Người là Chúa, từ nay với nhân tính của Người, Người ngự trị trong vinh quang vĩnh cửu của Con Thiên Chúa và không ngừng chuyển cầu cho chúng ta nơi Thiên Chúa Cha. Người cử Thánh Thần của Người đến với chúng ta và ban cho chúng ta niềm hy vọng một ngày kia sẽ được theo Người, đến nơi Người đã dọn sẵn cho chúng ta.

133. H- Hiện tại, Chúa Giêsu thống trị như thế nào ?

T- Là Đức Chúa của vũ trụ và lịch sử, là Đầu Hội Thánh của Người, Đức Kitô vinh hiển vẫn hiện diện một cách mầu nhiệm trên trần gian, nơi Nước của Người đã hiện diện như hạt giống và đã khởi đầu trong Hội Thánh. Một ngày kia, Người sẽ trở lại trong vinh quang, nhưng chúng ta không biết được ngày nào giờ nào. Vì thế, chúng ta sống tỉnh thức trong cầu nguyện : “Lạy Chúa, xin ngự đến” (Kh 22,20).

134. H- Việc Chúa ngự đến trong vinh quang sẽ diễn ra như thế nào ?

T- Sau cuộc đảo lộn cuối cùng của vũ trụ, thế giới này qua đi, Đức Kitô sẽ ngự đến vinh quang. Đó sẽ là chiến thắng tối hậu của Thiên Chúa khi Đức Kitô quang lâm và sẽ là cuộc phán xét cuối cùng. Như thế, Nước Thiên Chúa sẽ được hoàn thành.
 

GIÁO LÝ TUẦN 33 :

Chúa Nhật 17 Thường niên (25/7/2010)

 

135. H- Đức Kitô sẽ phán xét kẻ sống và kẻ chết như thế nào ?

T- Đức Kitô sẽ phán xét với quyền năng mà Người đã đạt được với tư cách là Đấng Cứu Chuộc đã đến để cứu độ loài người. Những điều kín nhiệm trong tâm hồn cũng như thái độ của mỗi người đối với Thiên Chúa và tha nhân sẽ được tỏ ra. Mỗi người sẽ được tràn đầy sự sống hay bị kết án đời đời tùy theo các công việc họ đã làm. Như thế, “sự viên mãn của Đức Kitô” (Ep 4,13) sẽ được thực hiện, trong đó “Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28).

136. H- Hội Thánh muốn nói gì khi tuyên xưng “Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần”?

T- Tin vào Chúa Thánh Thần là tuyên xưng rằng Ngài là Ngôi thứ Ba của Ba Ngôi Cực Thánh ; Ngài xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con, và Ngài “được phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con”. Chúa Thánh Thần được “sai đến trong lòng chúng ta” (Gl 4,6) để chúng ta có thể nhận lãnh sự sống mới như những người con của Thiên Chúa.

137. H- Tại sao sứ vụ của Chúa Con và sứ vụ của Chúa Thánh Thần không thể tách rời nhau ?

T- Trong Ba Ngôi không thể phân chia, Chúa Con và Chúa Thánh Thần phân biệt với nhau, nhưng không tách rời nhau. Thực vậy, từ khởi đầu cho đến cùng tận thời gian, khi Chúa Cha sai Con Ngài, thì cũng sai Thánh Thần của  mình, Đấng kết hợp chúng ta với Đức Kitô trong đức tin, để với tư cách là dưỡng tử, chúng ta có thể gọi Thiên Chúa là “Cha” (Rm 8,15). Chúa Thánh Thần vô hình, nhưng chúng ta biết được Ngài qua tác động của Ngài, khi Ngài mạc khải Ngôi Lời cho chúng ta và khi Ngài hoạt động trong Hội Thánh.

138. H- Những danh hiệu khác của Chúa Thánh Thần là gì ?

T- “Chúa Thánh Thần” là danh xưng của Ngôi Ba. Chúa Giêsu cũng gọi Chúa Thánh Thần là Đấng An Ủi (Parakletos - Đấng Bảo Trợ) và Thần Chân lý. Tân Ước còn gọi Ngài là Thánh Thần của Đức Kitô, của Đức Chúa, của Thiên Chúa, Thánh Thần của Vinh quang, Thánh Thần của Lời hứa.

139. H- Những biểu tượng của Chúa Thánh Thần là gì?

T- Có nhiều biểu tượng của Chúa Thánh Thần: nước hằng sống tuôn trào từ trái tim bị đâm thâu của Đức Kitô và giải cơn khát cho những người đã được Rửa tội ; việc xức dầu là dấu chỉ của Bí tích Thêm Sức ; lửa biến đổi tất cả những gì lửa bén tới ; áng mây, mờ tối hay rạng ngời, trong đó vinh quang Thiên Chúa được tỏ hiện ; việc đặt tay thông ban Chúa Thánh Thần ; chim bồ câu đã ngự xuống và ở lại trên Đức Kitô lúc Người chịu Phép rửa.

 

GIÁO LÝ TUẦN 34 :

Chúa Nhật 18 Thường niên (01/8/2010)

 

140. H- “Chúa Thánh Thần đã dùng các tiên tri mà phán dạy” nghĩa là gì ?

T- Từ tiên tri ở đây được dùng để chỉ những người được Chúa Thánh Thần linh ứng để họ nói nhân danh Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần đã làm cho các lời tiên tri trong Cựu Ước được ứng nghiệm hoàn toàn nơi Đức Kitô ; cũng chính Chúa Thánh Thần mạc khải mầu nhiệm Đức Kitô trong Tân Ước.

141. H- Hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi thánh Gioan Tẩy Giả như thế nào ?

T- Chúa Thánh Thần đổ tràn trên thánh Gioan Tẩy Giả, vị tiên tri cuối cùng của Cựu Ước. Dưới tác động của Chúa Thánh Thần, ông được sai đi để “chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa” (Lc 1,17) và để loan báo việc Đức Kitô, Con Thiên Chúa, ngự đến ; đó là Đấng mà ông đã thấy Thánh Thần ngự xuống và ở lại trên Người, Đấng “làm phép rửa trong Thánh Thần” (Ga 1,33).

142. H- Đâu là hành động của Chúa Thánh Thần nơi Đức Maria ?

T- Nơi Đức Maria, Chúa Thánh Thần hoàn thành tất cả sự trông chờ và chuẩn bị trong Cựu Ước để đón Chúa Kitô đến. Một cách độc nhất vô nhị, Chúa Thánh Thần đã đổ tràn ân sủng trên Đức Maria và làm cho đức trinh khiết của Mẹ có khả năng sinh nở, để Mẹ sinh hạ Con Thiên Chúa nhập thể. Chúa Thánh Thần đã làm cho Đức Maria trở thành Mẹ của “Đức Kitô toàn thể”, nghĩa là của Đức Kitô là Đầu và của Hội Thánh là thân thể Người. Đức Maria hiện diện giữa nhóm Mười Hai ngày lễ Ngũ Tuần, khi Thánh Thần khai mở “thời đại cuối cùng” với việc xuất hiện của Hội Thánh.

143. H- Trong sứ vụ trần thế, Đức Giêsu Kitô có liên hệ gì với Chúa Thánh Thần ?

T- Từ khi nhập thể, nhờ việc xức dầu bằng Chúa Thánh Thần, Con Thiên Chúa đã được thánh hiến làm Đấng Mêsia trong nhân tính của Người. Đức Kitô mạc khải Chúa Thánh Thần trong giáo huấn của Người, hoàn thành lời hứa đã được ban cho các tổ phụ. Người trao ban Thánh Thần cho Hội Thánh vừa mới sinh khi thổi hơi trên các Tông đồ sau khi Người Phục Sinh.

144. H- Điều gì đã xảy ra trong ngày lễ Ngũ Tuần?

T- Năm mươi ngày sau cuộc Phục Sinh, vào lễ Ngũ Tuần, Đức Giêsu Kitô vinh hiển đã đổ tràn Thánh Thần và mạc khải Ngài là một Ngôi vị Thiên Chúa ; như vậy Ba Ngôi cực thánh được mạc khải trọn vẹn. Sứ vụ của Đức Kitô và của Chúa Thánh Thần trở thành sứ vụ của Hội Thánh, được sai đi công bố và loan truyền mầu nhiệm hiệp thông của Chúa Ba Ngôi.

 

GIÁO LÝ TUẦN 35 :

Chúa Nhật 19 Thường niên (08/8/2010)

 

145. H- Chúa Thánh Thần làm gì trong Hội Thánh ?

T- Chúa Thánh Thần xây dựng Hội Thánh, ban sinh khí và thánh hóa Hội Thánh : là Thánh Thần Tình Yêu, Ngài làm cho những người đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội nhận lại được ơn giống Thiên Chúa đã bị đánh mất vì tội lỗi ; Ngài cho họ sống trong Đức Kitô bằng chính Sự Sống của Ba Ngôi cực thánh. Ngài sai họ đi làm chứng cho Chân Lý của Đức Kitô và cắt đặt họ vào trong các phận vụ đối với nhau, để mọi người sinh “hoa trái của Thánh Thần” (Gl 5,22).

146. H- Đức Kitô và Thánh Thần của Người hoạt động như thế nào trong tâm hồn các tín hữu ?

T- Nhờ các Bí Tích, Đức Kitô thông truyền Thánh Thần của Người và ân sủng của Thiên Chúa cho các chi thể trong Thân thể Người. Ân sủng này sinh hoa trái của đời sống mới theo Thánh Thần. Cuối cùng, Thánh Thần là Thầy dạy cầu nguyện.

147. H- Hai tiếng Hội Thánh có nghĩa là gì?

T- Hội Thánh là dân được Thiên Chúa kêu gọi và quy tụ từ khắp nơi trên thế giới, làm thành cộng đoàn gồm những người, nhờ đức tin và Bí Tích Rửa Tội, trở nên con cái Thiên Chúa, chi thể của Đức Kitô và đền thờ của Chúa Thánh Thần.

148. H- Trong Thánh Kinh, có những danh hiệu và hình ảnh nào khác để chỉ Hội Thánh không ?

T- Trong Thánh Kinh chúng ta tìm thấy nhiều hình ảnh làm nổi bật những phương diện khác nhau của mầu nhiệm Hội Thánh. Cựu Ước hay dùng những hình ảnh liên hệ với dân Thiên Chúa. Tân Ước hay dùng những hình ảnh liên hệ với Đức Kitô là Đầu của dân là Thân thể Người. Có những hình ảnh khác lấy từ đời sống chăn nuôi (chuồng chiên, đàn chiên, con chiên), đời sống nông thôn (cánh đồng, cây ôliu, vườn nho), từ nhà cửa (nhà ở, viên đá, đền thờ) và từ cuộc sống gia đình (người vợ, người mẹ, gia đình).

 

GIÁO LÝ TUẦN 36 :

Chúa Nhật lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời (15/8/2010)

 

149. H- Đâu là khởi đầu và hoàn thành của Hội Thánh?

T- Cả khởi đầu và sự hoàn thành của Hội Thánh đều nằm trong kế hoạch vĩnh cửu của Thiên Chúa. Hội Thánh đã được chuẩn bị trong Giao ước cũ qua việc tuyển chọn dân Israel, là dấu chỉ cuộc tập họp trong tương lai gồm tất cả các dân tộc. Hội Thánh được đặt nền tảng trên các lời nói và việc làm của Đức Giêsu Kitô, và đặc biệt được thực hiện nhờ cái chết cứu chuộc và cuộc phục sinh của Người. Rồi Hội Thánh được tỏ hiện như mầu nhiệm cứu độ qua việc Thánh Thần được tuôn đổ trong ngày lễ Hiện Xuống. Hội Thánh sẽ hoàn thành vào ngày tận thế như cuộc tập họp trên thiên quốc của tất cả những người được cứu chuộc.

150. H- Sứ mạng của Hội Thánh là gì ?

T- Sứ mạng của Hội Thánh là rao truyền Nước Thiên Chúa mà Đức Giêsu Kitô đã khởi đầu và thiết lập Nước ấy giữa mọi dân tộc. Trên trái đất, Hội Thánh là mầm giống và khởi điểm của Nước cứu độ này.

151. H- Hội Thánh là mầu nhiệm theo nghĩa nào ?

T- Hội Thánh là mầu nhiệm bởi vì, trong thực tại hữu hình của Hội Thánh, có một thực tại thiêng liêng thần linh đang hiện diện và hoạt động, mà chỉ con mắt đức tin mới có thể nhận ra.

152. H- “Hội Thánh là bí tích phổ quát của ơn cứu độ” có nghĩa là gì ?

T- Câu này muốn nói Hội Thánh là dấu chỉ và khí cụ cho việc giao hòa và hiệp thông toàn thể nhân loại với Thiên Chúa cũng như cho sự hợp nhất tất cả loài người.

153. H- Tại sao Hội Thánh là Dân Thiên Chúa ?

T- Hội Thánh là Dân Thiên Chúa, bởi vì Ngài muốn thánh hóa và cứu độ mọi người không phải cách riêng rẽ, nhưng thiết lập họ thành một Dân duy nhất, được quy tụ trong sự hợp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

 

GIÁO LÝ TUẦN 37 :

Chúa Nhật 21 Thường niên (22/8/2010)

 

154. H- Đâu là những đặc tính của Dân Thiên Chúa ?

T- Dân Thiên Chúa mà chúng ta là thành phần nhờ đức tin vào Đức Kitô và nhờ Bí Tích Rửa Tội, có cội nguồn là Thiên Chúa Cha, có Thủ lãnh là Đức Giêsu Kitô, có địa vị là phẩm giá và sự tự do của con cái Thiên Chúa, có Lề luật là điều răn mới của tình yêu, có sứ vụ là trở thành muối và ánh sáng cho thế giới, có cùng đích là Nước Thiên Chúa, đã được khởi đầu trên trần thế.

155. H- Dân Thiên Chúa dự phần như thế nào vào ba chức năng của Đức Kitô là Tư Tế, là Tiên tri và là Vương đế ?

T- Dân Thiên Chúa được dự phần vào chức năng tư tế của Đức Kitô, vì các người đã chịu phép Rửa tội được Chúa Thánh Thần thánh hiến để dâng các hy lễ thiêng liêng. Họ được dự phần vào chức năng tiên tri, vì nhờ cảm thức siêu nhiên của đức tin, họ gắn bó vĩnh viễn với đức tin, đào sâu để hiểu biết đức tin và trở thành chứng nhân cho đức tin. Họ được dự phần vào chức năng vương đế qua việc phục vụ, noi gương Đức Kitô Giêsu, là Vua vũ trụ đã trở nên tôi tớ cho mọi người, nhất là những người nghèo khó và đau khổ.

156. H- Hội Thánh là Thân thể của Đức Kitô theo cách nào ?

T- Đức Kitô, Đấng đã chết và phục sinh, kết hợp các tín hữu với chính Người cách mật thiết, nhờ Chúa Thánh Thần. Như thế những ai tin vào Đức Kitô, vì được kết hợp chặt chẽ với Người, nhất là trong bí tích Thánh Thể, thì cũng kết hợp với nhau nhờ đức ái, tạo thành một thân thể duy nhất là Hội Thánh. Sự hợp nhất của Hội Thánh thực hiện trong sự đa dạng của các chi thể và các phận vụ.

157. H- Ai là đầu của thân thể này ?

T- Đức Kitô là “Đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh” (Cl 1,18). Hội Thánh sống nhờ Người, trong Người và cho Người. Đức Kitô và Hội Thánh tạo thành “Đức Kitô toàn thể” (Thánh Augustinô). “Có thể nói : Đầu là các chi thể làm thành cùng một con người mầu nhiệm” (Thánh Tôma Aquinô).

158. H- Tại sao Hội Thánh được gọi là Hôn thê của Đức Kitô ?

T- Hội Thánh được gọi là Hôn thê của Đức Kitô bởi vì chính Chúa đã tự xưng là “Hôn phu” (Mc 2,19), Đấng đã yêu thương Hội Thánh, đã kết ước với Hội Thánh bằng một giao ước vĩnh cửu. Người đã phó nộp mình vì Hội Thánh, để thanh tẩy Hội Thánh bằng Máu của Người, và “thánh hoá Hội Thánh” (Ep 5,26), làm cho Hội Thánh trở thành mẹ sinh ra tất cả các con cái của Thiên Chúa. Nếu hai chữ “Thân thể” cho thấy sự hợp nhất giữa “Đầu” và các chi thể, thì hai chữ “Hôn thê” làm nổi bật sự phân biệt giữa đôi bên trong một quan hệ đối với nhau.

 

GIÁO LÝ TUẦN 38 :

Chúa Nhật 22 Thường niên (29/8/2010)

159. H- Tại sao Hội Thánh được gọi là Đền thờ Chúa Thánh Thần ?    

T- Hội Thánh được gọi thế bởi vì Chúa Thánh Thần ngự trong thân thể là Hội Thánh, trong “Đầu” và trong “các chi thể” của Hội Thánh ; Ngài cũng xây dựng Hội Thánh trong đức mến, nhờ Lời Chúa, các bí tích, các nhân đức và các đặc sủng.

160. H- Đặc sủng là gì ?

T- Đặc sủng là những ân huệ đặc biệt của Chúa Thánh Thần, được ban tặng cho một số người vì lợi ích của con người, vì những nhu cầu của thế giới và đặc biệt là để xây dựng Hội Thánh. Chỉ có Huấn quyền của Hội Thánh mới có thẩm quyền nhận định các đặc sủng.

161. H- Tại sao Hội Thánh có đặc tính duy nhất ?

T- Hội Thánh là duy nhất, vì Hội Thánh có nguồn gốc và khuôn mẫu là sự duy nhất của một Thiên Chúa trong Ba Ngôi ; có Đấng sáng lập và làm Đầu là Đức Giêsu Kitô, Đấng quy tụ mọi dân tộc trong sự duy nhất của một thân thể ; có Chúa Thánh Thần như linh hồn, Đấng hợp nhất tất cả các tín hữu vào sự hiệp thông trong Đức Kitô. Hội Thánh có một đức tin duy nhất, một đời sống bí tích duy nhất, một chuỗi kế nhiệm tông truyền duy nhất, cùng một niềm hy vọng chung và cùng một đức mến.

162. H- Hội Thánh duy nhất của Đức Kitô tồn tại ở đâu?

T- Với tính cách là một cộng đoàn được thiết lập và tổ chức ở trần gian, Hội Thánh duy nhất của Đức Kitô tồn tại (subsistit in) trong Hội Thánh Công giáo, được điều hành do vị kế nhiệm Thánh Phêrô và do các Giám mục hiệp thông với ngài. Chỉ nhờ Hội Thánh này người ta mới có thể nhận được cách đầy đủ các phương tiện cứu độ, vì Chúa đã trao phó tất cả những gì thiện hảo của Giao ước Mới cho tông đồ đoàn duy nhất, có Thánh Phêrô đứng đầu.

 

GIÁO LÝ TUẦN 39 :

Chúa Nhật 23 Thường niên (05/9/2010)

 

163. H- Phải nhìn các người Kitô hữu không thuộc Công giáo như thế nào ?

T- Trong các Giáo hội và các Cộng đoàn giáo hội, đã tách rời khỏi sự hiệp thông trọn vẹn với Hội Thánh Công giáo, cũng có nhiều yếu tố thánh hoá và chân lý. Tất cả các yếu tố này xuất phát từ Đức Kitô và đều hướng đến sự hợp nhất Công giáo. Các thành viên của các Giáo hội và các cộng đoàn này được liên kết với Đức Kitô nhờ Bí Tích Rửa Tội ; vì vậy chúng ta nhìn nhận họ là anh em.

164. H- Làm thế nào để dấn thân cho sự hợp nhất giữa các Kitô hữu ?

T- Lòng khao khát muốn tái lập sự hợp nhất giữa tất cả các người Kitô hữu là một hồng ân của Đức Kitô và là một lời kêu gọi của Chúa Thánh Thần. Khao khát này liên quan đến toàn thể Hội Thánh và được thực hiện bằng việc sám hối tận đáy lòng, cầu nguyện, hiểu biết nhau với tình anh em và đối thoại thần học.

165. H- Hội Thánh có đặc tính là thánh thiện theo nghĩa nào ?

T- Hội Thánh thánh thiện, vì Thiên Chúa chí thánh là nguồn gốc của Hội Thánh. Đức Kitô đã tự hiến mình vì Hội Thánh, để thánh hóa Hội Thánh và làm cho Hội Thánh có khả năng thánh hóa. Chúa Thánh Thần ban sự sống cho Hội Thánh bằng tình yêu. Trong Hội Thánh có tất cả các phương tiện cứu độ. Sự thánh thiện là ơn gọi của từng người trong Hội Thánh và là mục đích của mọi hoạt động của Hội Thánh. Trong Hội Thánh có Đức Trinh Nữ Maria và vô vàn vô số vị thánh, là gương mẫu và là những đấng chuyển cầu cho Hội Thánh. Sự thánh thiện của Hội Thánh là suối nguồn cho sự thánh hóa các con cái mình, là những người, trên trần gian này, đều tự nhận mình là kẻ tội lỗi và luôn cần sám hối và thanh tẩy.

166. H- Tại sao Hội Thánh được gọi là công giáo ?

T- Hội Thánh có đặc tính là công giáo, nghĩa là phổ quát, vì Đức Kitô hiện diện trong Hội Thánh. “Ở đâu có Đức Kitô Giêsu, ở đó có Hội Thánh Công giáo” (Thánh Inhaxiô Antiôkia). Hội Thánh loan báo toàn bộ đức tin và và đức tin toàn vẹn. Hội Thánh gìn giữ và quản lý đầy đủ các phương tiện cứu độ. Hội Thánh được sai đến với mọi dân tộc ở mọi thời đại và thuộc mọi nền văn hóa.

 

GIÁO LÝ TUẦN 40 :

Chúa Nhật 24 Thường niên (12/9/2010)

 

167. H- Giáo hội địa phương có phải công giáo không ?

T- Mỗi Giáo hội địa phương (nghĩa là một giáo phận) đều là công giáo, được hình thành bởi cộng đoàn các người Kitô hữu, cùng hiệp thông trong đức tin và trong các bí tích với giám mục của họ, là người được tấn phong trong chuỗi kế nhiệm tông truyền, và với Giáo hội Rôma là Giáo hội “chủ trì trong đức ái” (thánh Inhaxiô Antiôkia).

168. H- Ai thuộc về Hội Thánh Công giáo ?

T- Tất cả mọi người, dưới nhiều hình thức khác nhau, đều thuộc về hay hướng đến sự hợp nhất công giáo của dân Thiên Chúa. Người hoàn toàn thuộc về Hội Thánh Công giáo là người, nhận được Thánh Thần của Đức Kitô, kết hợp với Hội Thánh bằng các dây liên kết là việc tuyên xưng đức tin, các bí tích, sự hướng dẫn của giáo phẩm và sự hiệp thông. Những người đã được Rửa tội nhưng không thực hiện đầy đủ sự hợp nhất công giáo thì cũng hiệp thông một cách nào đó, tuy là hiệp thông không trọn vẹn, với Hội Thánh Công giáo.

169. H- Hội Thánh Công giáo liên hệ với dân Do Thái như thế nào ?

T- Hội Thánh Công giáo công nhận liên hệ của mình với dân Do Thái vì Thiên Chúa đã tuyển chọn dân này, trước tất cả mọi dân khác, để đón nhận Lời Ngài. Chính dân Do Thái “được Thiên Chúa nhận làm nghĩa tử, được ban vinh quang, các giao ước, lề luật, nền phụng tự và các lời hứa ; họ là con cháu các tổ phụ, và Đức Kitô, xét như một người phàm, cũng xuất thân từ dòng dõi họ” (Rm 9,4-5). Khác với các tôn giáo khác không thuộc Kitô giáo, đức tin Do Thái đã là lời đáp trả cho mạc khải của Thiên Chúa trong Giao Ước cũ.

170. H- Hội Thánh Công giáo có liên hệ nào với các tôn giáo ngoài Kitô giáo ?

T- Trước hết, đó là mối liên hệ về nguồn gốc và cứu cánh chung của toàn thể nhân loại. Hội Thánh Công giáo nhìn nhận rằng những gì tốt và thật trong các tôn giáo khác đều xuất phát từ Thiên Chúa. Đó là một tia phản chiếu chân lý của Ngài. Điều này có thể chuẩn bị cho việc đón nhận Tin Mừng và thúc đẩy hướng đến sự hợp nhất nhân loại trong Hội Thánh của Đức Kitô.

171. H- Câu khẳng định “Ngoài Hội Thánh không có ơn cứu độ” có nghĩa là gì ?

T- Câu này muốn nói rằng ơn cứu độ xuất phát từ Đức Kitô-là-Đầu thông qua trung gian là Hội Thánh, thân thể Người. Những ai biết rằng Hội Thánh được Đức Kitô thiết lập và cần thiết cho ơn cứu độ, mà không muốn gia nhập hay không kiên trì gắn bó với Hội Thánh, thì không thể được cứu độ. Ngoài ra, nhờ Đức Kitô và Hội Thánh Người, những ai, không vì lỗi mình mà không biết Tin Mừng của Đức Kitô và Hội Thánh Người, nhưng chân thành đi tìm Thiên Chúa và nhờ tác động của ân sủng, cố gắng chu toàn thánh ý Thiên Chúa theo sự hướng dẫn của lương tâm, thì vẫn có thể đạt được ơn cứu độ muôn đời.

 

GIÁO LÝ TUẦN 41 :

Chúa Nhật 25 Thường niên (19/9/2010)

 

172. H- Tại sao Hội Thánh phải loan báo Tin Mừng cho toàn thế giới ?

T- Bởi vì Đức Kitô đã truyền cho Hội Thánh : “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19). Mệnh lệnh truyền giáo này của Chúa bắt nguồn là tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa, Đấng đã sai phái Con và Thánh Thần Ngài, vì Ngài “muốn cho mọi người được cứu độ và đạt tới việc nhận biết chân lý” (1 Tm 2,4).

173. H- Thế nào là Hội Thánh truyền giáo ?

T- Được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, Hội Thánh tiếp tục qua dòng lich sử sứ vụ của chính Đức Kitô. Vì vậy, các người Kitô hữu phải loan báo cho mọi người Tin Mừng đã được Đức Kitô mang đến, và khi bước theo cùng một con đường như Người, họ phải sẵn sàng hy sinh bản thân, thậm chí đến chỗ tử đạo.

174. H- Tại sao Hội Thánh có đặc tính tông truyền ?

T- Hội Thánh có đặc tính tông truyền do nguồn gốc của mình, vì Hội Thánh đã được “xây dựng trên nền móng là các Tông đồ” (Ep 2,20) ; do giáo huấn của mình là giáo huấn của các thánh Tông đồ ; và do cơ cấu của mình, vì Hội Thánh được xây dựng, thánh hóa và hướng dẫn cho đến ngày Chúa Kitô trở lại, bởi các thánh Tông đồ, nhờ những vị kế nhiệm các ngài là các giám mục hiệp thông với vị kế nhiệm thánh Phêrô.

175. H- Sứ vụ của các thánh Tông đồ là ở chỗ nào ?

T- Tông đồ có nghĩa là người được sai đi. Chúa Giêsu, Đấng được Chúa Cha sai đến, đã kêu gọi và tuyển chọn mười hai người trong số các môn đệ và đặt họ làm Tông đồ của Người, làm cho họ thành những chứng nhân cho cuộc Phục Sinh của Người và thành nền tảng Hội Thánh của Người. Người truyền cho họ phải tiếp tục sứ vụ của Người, khi Người nói với họ : “Như Chúa Cha đã sai phái Thầy, Thầy cũng sai phái anh em đi” (Ga 20,21), và Người hứa ở với họ cho đến ngày tận thế.

176. H- Kế nhiệm tông truyền là gì ?

T- Kế nhiệm tông truyền là chuyển giao sứ vụ và quyền hạn của các Tông đồ cho những người kế vị các ngài, là các giám mục, qua Bí Tích Truyền Chức Thánh. Chính nhờ việc chuyển giao này mà Hội Thánh vẫn duy trì được sự hiệp thông trong đức tin và đời sống với nguồn gốc của mình, trải qua bao thế kỷ, Hội Thánh thực hành việc tông đồ của mình là làm lan tỏa Nước của Đức Kitô trên trần gian.

 

GIÁO LÝ TUẦN 42 :

Chúa Nhật 26 Thường niên (26/9/2010)

 

177. H- Các tín hữu là ai ?

T- Các tín hữu là những người được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ Bí Tích Rửa Tội, được trở nên thành phần của dân Thiên Chúa. Trở thành những người được dự phần vào các chức năng tư tế, tiên tri và vương đế của Đức Kitô, tùy theo địa vị riêng của mình, họ được mời gọi thực thi sứ vụ Thiên Chúa trao phó cho Hội Thánh. Giữa họ, có một sự bình đẳng thực sự do phẩm giá của họ là con cái Thiên Chúa.

178. H- Dân Thiên Chúa được hình thành như thế nào?

T- Do Thiên Chúa thiết lập, trong Hội Thánh có những thừa tác viên có chức thánh, đã được lãnh nhận Bí tích Truyền Chức Thánh và tạo thành phẩm trật của Hội Thánh. Những người khác được gọi là giáo dân. Trong cả hai thành phần này, có những tín hữu được thánh hiến cách đặc biệt cho Thiên Chúa qua việc khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm : khiết tịnh trong đời sống độc thân, khó nghèo và vâng phục.

179. H- Tại sao Đức Kitô lại thiết lập phẩm trật trong Hội Thánh ?

T- Đức Kitô đã thiết lập phẩm trật trong Hội Thánh để chăn dắt dân Thiên Chúa nhân danh Người ; và vì thế, Người đã trao ban quyền hành cho họ. Phẩm trật bao gồm các thừa tác viên có chức thánh : các giám mục, linh mục, phó tế. Nhờ Bí Tích truyền chức thánh, các giám mục và linh mục, khi thực thi thừa tác vụ của mình, hoạt động nhân danh và trong cương vị của Đức Kitô-là-Đầu. Các phó tế phục vụ dân Chúa trong việc phục vụ (diakonia) Lời Chúa, phụng vụ và việc bác ái.

180. H- Chiều kích tập thể của thừa tác vụ trong Hội Thánh được thực hiện như thế nào ?

T- Theo gương nhóm mười hai Tông đồ, được Đức Kitô tuyển chọn và sai đi chung với nhau, sự hợp nhất của tất cả các thành phần trong phẩm trật Hội Thánh, là để phục vụ sự hiệp thông của tất cả các tín hữu. Mỗi giám mục thực thi thừa tác vụ của mình với tư cách là thành viên của giám mục đoàn, trong sự hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, dự phần với ngài vào việc chăm lo cho Hội Thánh phổ quát. Các linh mục thực thi thừa tác vụ của mình trong linh mục đoàn của Hội Thánh địa phương, trong sự hiệp thông với giám mục và dưới sự hướng dẫn của ngài.

181. H- Tại sao thừa tác vụ trong Hội Thánh cũng có đặc tính cá nhân ?

T- Thừa tác vụ trong Hội Thánh cũng có đặc tính cá nhân, bởi vì, nhờ hiệu năng của Bí Tích Truyn Chức Thánh, mỗi người đều chịu trách nhiệm trước Đức Kitô, Đấng đã kêu gọi họ bản thân từng người và trao phó cho họ một sứ vụ.

 

GIÁO LÝ TUẦN 43 :

Chúa Nhật 27 Thường niên (03/10/2010)

 

182. H- Sứ vụ của Đức Giáo Hoàng là gì ?

T- Đức Giáo Hoàng, vừa là Giám mục Rôma vừa là vị kế nhiệm thánh Phêrô, là nguyên lý và nền tảng trường tồn và hữu hình cho sự hợp nhất của Hội Thánh. Ngài là vị đại diện Đức Kitô, đứng đầu giám mục đoàn và là mục tử của toàn thể Hội Thánh, vì Thiên Chúa thiết lập, ngài có quyền trọn vẹn, tối cao, trực tiếp và phổ quát trên Hội Thánh.

183. H- Nhiệm vụ của Giám mục đoàn là gì?

T- Giám mục đoàn, hiệp thông với Đức Giáo Hoàng và luôn phải có ngài, cũng thực thi trên Hội Thánh một quyền tối cao và trọn vẹn.

184. H- Các Giám mục thực thi sứ vụ giảng dạy của mình như thế nào ?

T- Vì là chứng nhân đích thực của đức tin tông truyền, và được trao ban uy quyền của Đức Kitô, nên các giám mục, trong sự hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, có bổn phận loan báo Tin Mừng cho mọi người cách trung thành và có uy quyền. Nhờ cảm thức siêu nhiên của đức tin, Dân Thiên Chúa, được Huấn quyền sống động của Hội Thánh hướng dẫn, gắn bó cách kiên vững với đức tin.

185. H- Sự bất khả ngộ của Huấn quyền thể hiện khi nào ?

T- Sự bất khả ngộ thể hiện khi Đức Giáo Hoàng, căn cứ vào thẩm quyền là Mục tử tối cao của Hội Thánh, hay Giám mục đoàn trong sự hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, nhất là khi các ngài họp Công đồng chung, công bố một điểm giáo lý có liên quan đến đức tin hay luân lý bằng một hành động dứt khoát. Sự bất khả ngộ cũng thể hiện khi Đức Giáo Hoàng và các Giám mục, trong Huấn quyền thông thường của các ngài, đồng thanh tuyên bố một điểm giáo lý cách dứt khoát. Mỗi tín hữu đều phải gắn bó với giáo huấn này trong sự vâng phục đức tin.

186. H- Các Giám mục thực thi sứ vụ thánh hóa như thế nào ?

T- Các Giám mục thánh hóa Hội Thánh khi trao ban ân sủng của Đức Kitô trong thừa tác vụ Lời Chúa và các bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể. Các ngài cũng thánh hóa Hội Thánh bằng lời cầu nguyện, gương mẫu và việc làm của mình.

 

GIÁO LÝ TUẦN 44 :

Chúa Nhật 28 Thường niên (10/10/2010)

 

187. H- Các Giám mục thực thi chức năng cai quản như thế nào ?

T- Mỗi Giám mục, với tư cách là thành viên của giám mục đoàn, phải quan tâm với tinh thần tập đoàn đến mọi Giáo hội địa phương và Hội Thánh toàn cầu, trong sự hợp nhất với các Giám mục khác kết hợp với Đức Giáo hoàng. Vị Giám mục được ủy thác một Giáo hội địa phương, sẽ điều khiển Giáo hội ấy với thẩm quyển do chức thánh, thẩm quyền riêng biệt, thông thường và trực tiếp, nhân danh Đức Kitô, vị Mục tử Nhân lành, trong sự hiệp thông với toàn thể Hội Thánh và dưới sự dẫn dắt của Đấng kế nhiệm thánh Phêrô.

188. H- Ơn gọi của người tín hữu giáo dân là gì ?

T- Người tín hữu giáo dân có ơn gọi riêng là tìm kiếm Nước Thiên Chúa, bằng việc soi sáng và sắp xếp các thực tại trần gian theo ý Thiên Chúa. Làm như vậy là họ thực hiện ơn gọi nên thánh và làm tông đồ, một ơn gọi được trao ban cho mọi người đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội.

189. H- Người tín hữu giáo dân tham gia vào chức vụ tư tế của Đức Kitô như thế nào?

T- Họ tham gia vào sứ vụ tư tế này, khi dâng hiến - như hy lễ thiêng liêng “được Thiên Chúa vui lòng chấp nhận nhờ Đức Giêsu Kitô” (1 Pr 2,5), nhất là trong Thánh lễ - cuộc sống riêng của họ, cùng với tất cả các hoạt động, lời cầu nguyện và việc dấn thân làm tông đồ, cuộc sống gia đình và lao động hằng ngày, những khó khăn trong cuộc sống mà họ chịu đựng cách kiên nhẫn và những lúc thư giãn thân xác và tinh thần. Bằng cách đó, người giáo dân, dấn thân cho Đức Kitô và được Chúa Thánh Thần thánh hiến, cũng dâng chính thế giới lên Thiên Chúa.

190. H- Họ tham gia vào sứ vụ tiên tri của Đức Kitô như thế nào ?

T- Họ tham dự vào sứ vụ tiên tri của Đức Kitô, khi luôn đón nhận trong đức tin Lời của Đức Kitô và loan báo Lời đó cho thế giới bằng chứng từ đời sống của họ, cũng như qua lời nói, hoạt động rao giảng Tin Mừng và huấn giáo. Việc rao giảng Tin Mừng như vậy đạt được hiệu quả đặc biệt vì việc này được thực hiện trong các hoàn cảnh bình thường nơi trần thế.

191. H- Họ tham gia vào sứ vụ vương đế của Đức Kitô như thế nào ?

T- Người giáo dân tham gia vào sứ vụ vương đế của Đức Kitô khi đón nhận từ nơi Người quyền năng chiến thắng tội lỗi, nơi chính họ và trong thế giới, qua việc từ bỏ bản thân và sống đời thánh thiện. Họ thực hành nhiều tác vụ khác nhau để phục vụ cộng đoàn và họ làm cho các hoạt động trần thế của con người, các cơ chế xã hội thấm nhuần những giá trị luân lý.

GIÁO LÝ TUẦN 45 :

Chúa Nhật 29 Thường niên (17/10/2010)

192. H- Đời sống thánh hiến là gì ?

T- Là một bậc sống được Hội Thánh công nhận. Đó là lời tự nguyện đáp lại tiếng gọi đặc biệt của Đức Kitô, qua đó những người được thánh hiến hoàn toàn tự hiến cho Thiên Chúa và hướng tới sự hoàn hảo của đức ái dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Đặc tính của sự thánh hiến là việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm.

193. H- Đời sống thánh hiến đóng góp gì cho sứ vụ Hội Thánh ?

T- Đời sống thánh hiến dự phần vào sứ vụ của Hội Thánh, bằng việc tự hiến trọn vẹn cho Đức Kitô và anh chị em, khi làm chứng cho niềm hy vọng về Nước Trời.

194. H- “Các thánh thông công” có ý nghĩa gì ?

T- Câu nói “các thánh thông công” trước hết nói lên rằng tất cả các thành phần Hội Thánh đều cùng chia sẻ những thực tại thánh (sancta): đức tin, các bí tích, đặc biệt là Bí Tích Thánh Thể, các đặc sủng và những ân huệ thiêng liêng khác. Cội nguồn của sự hiệp thông là đức ái “không tìm tư lợi” (1 Cr 13,5), nhưng thúc đẩy các tín hữu đặt “các sự là của chung” (Cv 4,32), kể cả của cải vật chất của họ, nhằm phục vụ những người nghèo khổ hơn.

195. H- Câu nói “các thánh thông công” còn mang ý nghĩa nào khác nữa ?

T- Câu này còn nói lên sự hiệp thông giữa những người thánh (sancti), nghĩa là những ai, nh ân sủng, được kết hợp với Đức Kitô chịu chết và sống lại. Một số còn lữ hành trên trần gian ; một số khác, đã rời bỏ đời này, hiện đang được thanh luyện và cũng được trợ giúp bằng lời cầu nguyện của chúng ta ; sau cùng, một số khác nữa, đang được hưởng vinh quang Thiên Chúa và đang chuyển cầu cho chúng ta. Tất cả cùng nhau làm thành một gia đình duy nhất trong Đức Kitô, là Hội Thánh, để ca ngợi và tôn vinh Chúa Ba Ngôi.

196. H- Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc là Mẹ Hội Thánh theo nghĩa nào ?

T- Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc là Mẹ Hội Thánh trong trật tự ân sủng bởi vì Mẹ đã sinh ra Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, là Đầu của Thân Thể Người là Hội Thánh. Khi sắp chết trên thánh giá, Chúa Giêsu đã trối Đức Maria làm mẹ của môn đệ Người bằng lời này : “Đây là mẹ của anh” (Ga 19,27).

 

GIÁO LÝ TUẦN 46 :

Chúa Nhật 30 Thường niên (24/10/2010)

197. H- Đức Maria trợ giúp Hội Thánh như thế nào ?

T- Sau khi Con mình về trời, Đức Maria đã giúp đỡ Hội Thánh lúc khởi đầu bằng lời cầu nguyện, và cả sau khi đã được lên trời, Mẹ vẫn tiếp tục chuyển cầu cho con cái mình, vẫn là mẫu gương cho mọi người về đức tin và đức ái, tạo ảnh hưởng cứu độ trên họ, ảnh hưởng này xuất phát từ sự dư đầy các công nghiệp của Đức Kitô. Các tín hữu nhìn Mẹ như hình ảnh và sự báo trước cuộc phục sinh đang chờ đón họ ; họ kêu cầu mẹ dưới các tước hiệu là Trạng sư, Đấng phù hộ, Đấng cứu giúp và Đấng trung gian.

198. H- Đức Trinh Nữ rất thánh được sùng kính như thế nào ?

T- Mẹ được sùng kính cách đặc biệt, nhưng khác hẳn với việc tôn thờ chỉ dành riêng cho Ba Ngôi cực thánh. Việc sùng kính đặc biệt này được diễn tả một cách độc đáo trong các ngày lễ phụng vụ dành kính Mẹ Thiên Chúa, và trong các kinh nguyện tôn kính Đức Mẹ, như Kinh Mân Côi, được xem là bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng.

199. H- Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc là hình ảnh cánh chung của Hội Thánh như thế nào ?

T- Khi nhìn lên Đức Maria, Đấng hoàn toàn thánh thiện và đang được tôn vinh cả hồn lẫn xác, Hội Thánh chiêm ngắm nơi Mẹ điều Hội Thánh được kêu gọi để sống trên trần gian và điều Hội Thánh sẽ trở thành trên quê hương thiên quốc.

200. H- Tội lỗi được tha thứ như thế nào ?

T- Bí tích đầu tiên và chính yếu để tha tội là Bí Tích Rửa Tội. Đối với những tội phạm sau khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, Đức Kitô đã thiết lập Bí Tích Hòa Giải hay Thống Hối, nhờ đó người đã được rửa tội được giao hòa với Thiên Chúa và với Hội Thánh.

201. H- Tại sao Hội Thánh có quyền tha tội?

T- Hội Thánh có sứ vụ và quyền năng để tha các tội lỗi, bởi vì chính Đức Kitô đã trao ban cho Hội Thánh quyền ấy : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha ; anh em cầm buộc tội ai, thì tội người ấy bị cầm buộc” (Ga 20,22-23).

 

GIÁO LÝ TUẦN 47 :

Chúa Nhật 31 Thường niên (31/10/2010)

202. H- Hai chữ “thân xác” có ý nghĩa gì ? Đâu là sự quan trọng của nó ?

T- Hai chữ “thân xác” chỉ con người trong thân phận yếu đuối và phải chết. “Thân xác là then chốt của ơn cứu độ” (Tertulliano). Thật vậy, chúng ta tin Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên thân xác ; chúng ta tin Ngôi Lời mặc lấy thân xác để cứu chuộc thân xác ; chúng ta tin vào sự sống lại của thân xác, đó là hoàn tất việc tạo dựng và cứu chuộc thân xác.

203. H- “Xác sống lại” có nghĩa là gì ?

T- Điều này có nghĩa là tình trạng vĩnh viễn của con người không phải chỉ là linh hồn thiêng liêng tách biệt khỏi thân xác, nhưng cả thân xác phải chết của chúng ta một ngày kia cũng sẽ sống lại.

204.H-Đâu là mối liên hệ giữa cuộc phục sinh của Đức Kitô với việc sống lại của chúng ta ?

T- Cũng như Đức Kitô đã thực sự sống lại từ cõi chết và đang sống mãi, cũng vậy, Người sẽ làm cho tất cả chúng ta sống lại trong ngày sau hết, với một thân xác không còn hư nát, “ai đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống ; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án” (Ga 5,29).

205. H- Khi chúng ta chết, điều gì sẽ xảy ra cho linh hồn và thân xác chúng ta ?

T- Khi chết, linh hồn và thân xác sẽ tách rời nhau, thân xác sẽ bị hủy hoại, trong khi linh hồn, vì là bất tử, sẽ chiu sự phán xét của Thiên Chúa và chờ đợi ngày được kết hợp lại với thân xác khi thân xác được biến đổi vào ngày Chúa trở lại. Việc tìm hiểu sự sống lại diễn ra như thế nào vượt quá khả năng của trí tưởng tưởng và sự hiểu biết của chúng ta.

 

GIÁO LÝ TUẦN 48 :

Chúa Nhật 32 Thường niên (07/11/2010)

206. H- Chết trong Đức Kitô Giêsu có nghĩa là gì ?

T- Điều này có nghĩa là chết trong ân sủng của Thiên Chúa, lúc không có tội trọng. Ai tin vào Đức Kitô và theo gương Người, sẽ có thể biến đổi cái chết của mình thành một hành vi vâng phục và yêu mến đối với Chúa Cha. “Đây là lời đáng tin cậy : Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người” (2 Tm 2,11).

207. H- Đời sống vĩnh cửu là gì ?

T- Đời sống vĩnh cửu là đời sống bắt đầu ngay sau khi chết. Đời sống này không có kết thúc. Khi bắt đầu bước vào đời sống vĩnh cửu, mỗi người sẽ phải qua một cuộc phán xét riêng do chính Đức Kitô, Đấng phán xét kẻ sống và kẻ chết. Cuộc phán xét riêng này sẽ được vĩnh viễn xác nhận trong cuộc phán xét chung.

208. H- Phán xét riêng là gì ?

T- Là cuộc phán xét thưởng phạt tức khắc mà mỗi người, ngay sau khi chết, lãnh nhận từ Thiên Chúa trong linh hồn bất tử của mình, tùy theo đức tin và các việc làm của mình. Sự phân định thưởng phạt này gồm có việc được vào hưởng hạnh phúc thiên đàng, tức khắc hoặc sau một cuộc thanh luyện thích hợp, hay là phải chịu phạt muôn đời trong hỏa ngục.

209. H- “Thiên đàng” là gì ?

T- “Thiên đàng” là tình trạng hạnh phúc tối cao và vĩnh viễn. Những ai chết trong ân sủng của Thiên Chúa và không cần bất cứ sự thanh luyện cuối cùng nào, sẽ được quy tụ quanh Chúa Giêsu và Đức Maria, các thiên thần và các thánh. Như vậy, các ngài làm thành Hội Thánh thiên quốc, nơi các ngài được chiêm ngắm Thiên Chúa “mặt giáp mặt” (1 Cr 13,12) ; các ngài sống trong sự hiệp thông tình yêu với Chúa Ba Ngôi và chuyển cầu cho chúng ta.

 

GIÁO LÝ TUẦN 49 :

Chúa Nhật 33 Thường niên (14/11/2010)

 

210. H- Luyện ngục là gì ?

T- Luyện ngục là tình trạng của những người chết trong tình thân với Thiên Chúa, nhưng, dù đã được đảm bảo ơn cứu độ vĩnh cửu, họ còn cần được thanh luyện trước khi vào hưởng hạnh phúc thiên đàng.

211. H- Bằng cách nào chúng ta có thể giúp các linh hồn đang được thanh luyện nơi luyện ngục ?

T- Nhờ sự “các thánh thông công” các tín hữu còn lữ hành trên trần gian, có thể giúp đỡ các linh hồn nơi luyện ngục, bằng cách dâng lời cầu khẩn, đặc biệt là thánh lễ, và cả những việc bố thí, những ân xá và những việc hãm mình để cầu cho họ.

212. H- Hỏa ngục hệ tại điều gì ?

T- Hỏa ngục là án phạt đời đời dành cho những ai, do sự lựa chọn tự do của mình, chết trong tình trạng có tội trọng. Hình phạt chính yếu của hỏa ngục là đời đời bị tách khỏi Thiên Chúa. Chỉ nơi Ngài con người mới có sự sống và hạnh phúc ; con người được tạo dựng là để hưởng những điều ấy và họ luôn khao khát những điều ấy. Đức Kitô diễn tả thực tại hỏa ngục bằng những lời này : “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời” (Mc 25,41).

213. H- Thiên Chúa là Đấng nhân hậu vô biên, làm sao Ngài lại để có hỏa ngục ?

T- Thiên Chúa muốn cho “mọi người đạt được hối cải” (2 Pr 3,9), nhưng vì Ngài đã tạo dựng con người có tự do và có trách nhiệm, nên Ngài tôn trọng các quyết định của họ. Vì thế, nếu cho đến lúc chết, con người vẫn cứ ở trong tội trọng, từ chối tình yêu nhân từ của Thiên Chúa, thì chính họ tự ý loại mình ra khỏi sự hiệp thông với Thiên Chúa.

 

GIÁO LÝ TUẦN 50 :

Chúa Nhật Chúa Kitô Vua (21/11/2010)

 

214. H- Phán xét cuối cùng là điều gì ?

T- Sự phán xét cuối cùng (phán xét chung) là sự phán quyết về cuộc sống hạnh phúc hay án phạt đời đời, mà Chúa Giêsu, khi Người trở lại như Đấng phán xét kẻ sống và kẻ chết, sẽ công bố cho “những người công chính cũng như kẻ bất chính” (Cv 24,15), quy tụ tất cả trước mặt Người. Sau cuộc phán xét cuối cùng, thân xác sống lại sẽ tham gia vào sự thưởng phạt mà linh hồn đã lãnh nhận trong cuộc phán xét riêng.

215. H- Khi nào cuộc phán xét này sẽ xảy ra?

T- Cuộc phán xét này sẽ xảy ra vào ngày tận thế mà chỉ mình Thiên Chúa mới biết được ngày nào giờ nào.

216. H- “Hy vọng trời mới đất mới” nghĩa là gì ?

T- Sau cuộc phán xét cuối cùng, chính vũ trụ, được giải thoát khỏi vòng nô lệ cảnh hư nát, sẽ được dự phần vào vinh quang của Đức Kitô với việc khai mạc “trời mới đất mới” (2 Pr 3,13). Như thế, sự viên mãn của Nước Thiên Chúa sẽ đạt đến đích điểm, nghĩa là ý định cứu độ của Thiên Chúa được hoàn thành vĩnh viễn : “Quy tụ muôn loài trên trời dưới đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô” (Ep 1,10). Khi ấy Thiên Chúa sẽ “là tất cả trong muôn loài” (1 Cr 15,28), trong cuộc sống đời đời.

217. H- Tiếng Amen, kết thúc Kinh Tin Kính, có nghĩa là gì ?

T- Từ Hipri Amen – cũng được dùng để kết thúc quyển sách cuối cùng của Thánh Kinh, một số lời cầu nguyện của Tân Ước và các lời cầu nguyện phụng vụ của Hội Thánh - diễn tả lời “Thưa vâng” đầy tin tưởng và trọn vẹn của chúng ta đối với những gì chúng ta đã tuyên xưng trong Kinh Tin Kính, chúng ta hoàn toàn phó mình cho Đấng là Amen tối hậu (Kh 3,14), tức là Chúa Kitô.

 

 


 

 

 

 

Về đầu trang

Những bài khác:
 
Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri

5 phút/ngày cho Lời Chúa 

<<Tháng 5 Năm 2012>>
HaiBaNămSáuBảyCN
 
1
 
2
 
3
 
4
 
5
 
6
 
7
 
8
 
9
 
10
 
11
 
12
 
13
 
14
 
15
 
16
 
17
 
18
 
19
 
20
 
21
 
22
 
23
 
24
 
25
 
26
 
27
 
28
 
29
 
30
 
31
 
   


Trung Tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu

 



Bác Ái Xã Hội - Caritas Đà Nẵng



Quỹ Giáo Dục Phạm Ngọc Chi

 

 



Chương Trình Căn Nhà Đồng Tâm

 



Nối Kết

Tòa Thánh Vatican

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

Uỷ Ban Mục Vụ Gia Đình 

Ủy Ban BAXH - Caritas VN

Ủy Ban Kinh Thánh

Ủy Ban Mục Vụ Di Dân

Uỷ Ban Truyền Thông Xã Hội

Tổng Giáo Phận Hà Nội

Tổng Giáo Phận Huế

Tổng Giáo Phận TP.HCM

Giáo Phận Lạng Sơn

Giáo Phận Hải Phòng

Giáo Phận Thái Bình

Giáo Phận Thanh Hóa

Giáo Phận Vinh

Giáo Phận Nha Trang

Giáo Phận Mỹ Tho

Giáo Phận Đà Lạt

Giáo Phận Vĩnh Long

Giáo Phận Ban Mê Thuột

Giáo Phận Phú Cường

Giáo Phận Phan Thiết

Giáo Phận Long Xuyên




© 2009 Tòa Giám Mục Đà Nẵng
Địa chỉ: 156 Trần Phú - Tp Đà Nẵng
Số Điện Thoại : 0511.3826628 Fax: 0511.3871856
Email: admin@giaophandanang.org
Được thiết kế và phát triển bởi nhóm thiết kế Website TGM Đà Nẵng Trang Trí Nội Thất Mộc Thịnh