Thi hài của nhiều vị thánh hiện nay vẫn còn nguyên vẹn, mặc dù đã qua đời từ lâu và không được dùng bất cứ một hóa chất nào để ướp. Cho đến nay các nhà khoa học vẫn bó tay không hiểu nổi tại sao các xác này đã không hề bị các vi khuẩn tàn phá. Thậm chí có vài xác còn tỏa ra mùi thơm và hơi ấm nữa.
NỮ THÁNH BERNADETTE

Nữ Thánh Bernadette Soubirous sinh năm 1844 tại Lourdes (Lộ Đức), miền Nam nước Pháp. Vào năm 1858, lúc 14 ruổi, Chị đã được thấy Đức Mẹ hiện ra tại hang Masabielle tại Lộ Đức, và được Đức Mẹ xưng với Chị : " Ta Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội". Sau đó, Chị đã vào dòng. Nữ tu Bernadette đã bị chứng bệnh nan y ung thư xương, rất đau đớn mệt mỏi và qua đời năm1879 ở tuổi 45. Hơn 40 năm sau, vào ngày 14.6.1925, nhân dịp phong Á thánh cho Chị, người ta đã cho quật mộ lên, và thấy xác Chị thánh không hề bị phân hủy, trong khi vải liệm xác Chị đã bị tan rữa và Thánh Giá trên tay đã bị rỉ sét.
Ngày nay xác Thánh Bernadette đang được đặt trong lồng kính quí tại nhà thờ thuộc dòng Saint- Gildard, ở Nevers, miền Trung nước Pháp. Chị được phong Á Thánh năm 1925 và Hiển thánh vào năm1933 .

Lễ mừng kính vào ngày 16 tháng 4 tại Giáo Phận Tarbes-Lourdes và tại Nevers vào ngày 18 tháng 2 hàng năm.
Lộ Đức (Lourdes) đã trở nên một nơi hành hương nổi tiếng nhất thế giới. Hàng trăm ngàn người đã đổ xô về đây để xin chữa lành các bệnh tật.
Theo tài liệu chính thức đã có trên 6000 trường hợp đuược lành bệnh hiển nhiên, trong số đó có 2000 trường hợp bác sĩ không thể cất nghĩa được, 66 trường hợp Giáo hội công giáo sau khi kiểm tra kỹ lương đã tuyên bố công nhận Phép lạ.
THÁNH GIOAN MARIA VIANNEY – CHA SỞ XỨ ARS

Thánh Gioan Maria Vianey, Cha xứ thành Ars“ sinh ngày 8.5. 1786 tại làng bên cạnh thành phố Lyon. Ngài sống vào thời cách mang Pháp, nên phải rước lễ vỡ lòng tại tư gia. Ban đầu Ngài đã làm việc phụ giúp cha mẹ trong nông trại gia đình. Khi đã trưởng thành, mới được gửi vào học tại chủng viện và được thụ phong linh mục vào năm 1815, và được bổ nhiệm về làm cha sở xứ Ars, bé nhỏ và nguội lạnh.
Ngài đã biến xứ Ars bê bối thành một giáo xứ đạo đức, bằng đời sống kinh nguyện, khó nghèo và cần mẫn. Ngài đã giải tội, giảng dạy, chăm sóc các linh hồn ngày và đêm. Tín hữu từ nhiều nơi khác đã tìm đến với Ngài, xin cố vấn và giúp đỡ về đàng thiêng liêng. Thánh nhân ra đi về cùng Chúa trong bình an vào ngày 04/8/1859. Chúa thưởng công Ngài bằng vô số những phép lạ sau khi Ngài qua đời. Đức Thánh Cha Piô X nâng Ngài lên bậc chân phước. Đức Giáo Hoàng Piô XII trong dịp năm thánh 1925 phong Ngài lên bậc hiển thánh và đặt Ngài làm bổn mạng các cha xứ. Xác Ngài vẫn còn nguyên vẹn, và được đặt tại Nhà thờ xứ Ars cho đến ngày nay.
THÁNH NỮ CATARINA LABOURÊ

Zôê Labôrê, sinh năm 1806, là con gái của một gia đình nông dân người Pháp. Thân mẫu của Zôê qua đời khi thánh nữ còn rất nhỏ. Zôê phải điều hành các việc trong gia đình khi người chị gái của Zôê đi tu. Vì lý do này, Zôê là người duy nhất trong gia đình không được đi học. Zôê không biết đọc cũng chẳng biết viết!
Zôê cũng thích được sống trong dòng khi mới tuổi hoa niên. Tuy nhiên, vì gia đình cần người giúp việc nhà nên Zôê đã phải chờ đợi cho tới khi lên 24. Rồi Zôê xin gia nhập dòng Nữ Tử Bác Ái của thánh Vinhsơn Phaolô, và nhận tên là Catarina. Sau khi khấn dòng ít lâu, sơ Catarina nhận được một đặc ân. Một đêm kia, lúc đang ngủ, Catarina bị đánh thức dậy. Một “hài nhi sáng láng” đã dẫn Catarina Labôrê vào trong nguyện đường của nhà dòng. Ở đó, Đức Mẹ đã tiến đến gặp gỡ và nói truyện với Catarina. Đức Mẹ, trong một thị kiến khác, đã tỏ mình đứng trên một quả địa cầu với các nguồn sáng tỏa ra từ đôi tay của Mẹ. Bên dưới có dòng chữ: “Lạy Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cầu cho chúng con là kẻ kêu cầu Người!” Đức Mẹ bảo sơ Catarina Labôrê làm một tấm ảnh họa lại bức ảnh vừa rồi. Đức Mẹ cũng nói rằng bất cứ ai đeo tấm ảnh này đều sẽ nhận được nhiều ơn lành từ Chúa Giêsu qua lời bầu cử của Đức Mẹ.
Sơ Catarina Labôrê thuật lại sự việc cho cha giải tội nghe và vị này đã trình lên đức giám mục. Vì thế, tấm ảnh, mà chúng ta vẫn gọi là Ảnh Phép Lạ, đã được đặt làm. Chẳng bao lâu, rất nhiều người trên khắp thế giới đã đeo tấm ảnh này. Tuy vậy, không một ai trong tu viện đã biết rằng sơ Catarina Labôrê khiêm tốn chính là người đã được Đức Mẹ hiện ra. Sơ đã sống 45 năm còn lại phục vụ những công việc thật bình thường trong tu viện. Sơ giữ cổng. Sơ nuôi gà để cung cấp trứng ăn cho các chị em. Sơ cũng trông coi người cao tuổi và những người đau ốm. Catarina vui sướng giữ kín đặc ân của mình; sơ chỉ quan tâm đến việc phục vụ Thiên Chúa cách chu đáo hết sức có thể. Năm 1933, khi cải mộ để lập hồ sơ xin phong thánh cho chị, nữ tu Catharina Labouré đã qua đời trên một trăm năm mà xác thánh Người vẫn còn nguyên vẹn và xinh đẹp như khi còn sống. Chị Cathérina Labouré được Đức Thánh Cha Piô XII phong lên bậc hiển thánh năm 1947.
Hiện nay xác Chị Thánh được đặt tại Nhà nguyện của Dòng Nữ tử Bác ái tại Rue du Bac, thủ đô Paris nước Pháp, là một trong những điểm hành hương đông đảo quanh năm tại Âu Châu.
NỮ THÁNH CLARA TẠI THÀNH ASSISI

Thánh Clara được sinh ra trong một gia đình quyền uy, thế giá ngày 16 tháng 7 năm 1194 tại Assisi miền Ombrie nước Ý. Mẹ của thánh nhân đã hun đúc con ngay khi Clara còn nhỏ, bà đã giáo dục con về nhân bản, về mặt đạo đức và bằng chính gương sáng của bà. Thân mẫu của thánh nhân đã dạy cho thánh Clara biết cầu nguyện, biết từ bỏ và đức tính nhẫn nhục, kiên trì. Năm 1212, thánh nhân đã tới một vùng quê để ẩn mình, tránh xa tiếng ồn ào và chuyên chăm cầu nguyện. Tại vùng thôn dã này, thánh nữ đã gặp thánh Phanxicô khó khăn và chính thánh Phanxicô đã tận tình giúp Ngài trên đường nhân đức, trên đường nên thánh.Thánh nữ đã cương quyết chống lại sự ngăn cản của cha mẹ, gia đình. Sau cùng thánh nữ được đưa đến đền thờ thánh Đamianô để lập hội các chị tận hiến cho Thiên Chúa. Thánh Phanxicô vẫn tiếp tục hướng dẫn thánh nữ trên đường nhân đức. Thánh nữ Clara đã điều khiển hội Dòng cách ân cần và khôn ngoan.
Với một đời sống luôn lấy Chúa làm cùng đích, thánh nữ Clara đã luôn tâm niệm:” Tất cả cho Chúa, tất cả vì phần rỗi các linh hồn”. Thánh nhân đã sống đời sống thánh thiện và muốn các chị em Dòng mình nên thánh và thánh nữ sau một cuộc đời tận tụy đã ra đi về với Chúa bình an ngày 11 tháng 8 năm 1253 trước sự thương tiếc của mọi người. Thân xác Ngài vẫn còn tồn tại yên nghỉ tại nhà thờ của thành Assisi, nước Ý. Năm 1255, Đức Tháh Cha Alexandre IV đã đặt Ngài lên hàng các thánh đồng trinh. Ngài đúng là:” Người trinh nữ khôn ngoan đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy mất đi”( Lc 10, 42 ).
CHÂN PHƯỚC ANNA MARIA TAIGI


Anna Maria Taigi sinh ngày 29.5.1769 tai Siena nước Ý và qua đời ngày 9.6.1837 tại Rôma. Sinh thời, đã được nhận ơn tiên tri của chúa 25 năm liền. Bà mẹ của 7 người con đã thị kiến thấy một vòng hào quang quanh mặt trời, trong tâm điểm của mặt trời bà thấy được mọi chuyện quá khứ, vị lai của nhân
Trong cuộc sống của bà, bà sống cuộc đời ăn năng đền tội và chay tịnh
Anna Maria Taigi mất khi 68 tuổi tại Rôma và được Đức Giáo Hoàng Benedikt XV phong á thánh vào ngày 30.5.1920.
THÁNH GIOAN BOSCO

Gioan Bosco hay còn gọi là Thánh Don Bosco(tên đầy đủ là Giovanni Melchiorre Bosco) sinh ngày 15 tháng 8 năm 1815, tại phía Bắc nước Ý. Cha của Don Bosco là ông Phanxicô Bosco sớm qua đời lúc người chỉ mới hai tuổi nên trong suốt thời niên thiếu, người sống trong cảnh khó khăn, nghèo túng. Ngay từ những năm tháng đầu đời Don Bosco đã nhận ra tiếng gọi của Chúa và người mong muốn được đi học để tương lai trở thành một linh mục, nhưng con đường người chọn đã gặp rất nhiều gian nan, trắc trở. Vào năm 1835, cậu bé Gioan

Bosco đã được gia nhập vào đại chủng viện Torino và 6 năm sau đó (1841) được thụ phong linh mục.
Lúc sinh tiền Ngài đã thành lập nhà dòng Salêsiêng (Salesianer) 1859, chuyên chăm sóc các thanh thiếu niên bụi đời, huấn nghệ và học hỏi Lời Chúa.Ngài có ơn tiên tri, và được coi như thánh sống.
Ngày 31 tháng Giêng năm 1888, cha Bosco giã từ cuộc đời về với Chúa. Lời trăn trối cuối cùng của cha là đã thể hiện tất cả cho cuôc đời của cha: "Hãy nói với những giới trẻ của ta rằng: Ta sẽ đợi chờ chúng trên Thiên Ðàng!". Chúa Nhật Phục Sinh năm 1934, người đã được Ðức Giáo Hoàng Pius XI phong lên làm một vị thánh trong Giáo Hội.
ĐỨC CHÂN PHƯỚC GIÁO HOÀNG GIOAN XXIII

Chân phước Giáo Hoàng Gioan XXIII tên thật là Angelo Giuseppe Roncalli, sinh ngày 25 tháng 11 năm 1881, đắc cử giáo hoàng là ngày 28 tháng 10 năm 1958, đăng quang ngày 8 tháng 11 sau đó. Ngài là vị Giáo hoàng thứ 261 của Giáo hội Công giáo Rôma. Ngài kết thúc triều đại của mình vào ngày 3 tháng 6 năm 1963.
Đức Gioan XXIII là người đã triệu tập Công đồng Vatican II vào năm 1962, như một mùa Hiện Xuồng Mới cho Giáo Hội Công giáo đương đại. Ngài được Đức Gioan Phaolô II phong lên bậc Chân phước vào ngày 3 tháng 9 năm 2000.
Người ta thường gọi Ngài là "Ðức Giáo hoàng Gioan Nhân hậu", và Ngài cũng là con cái của Thánh Phanxicô, khi gia nhập Dòng Ba lúc còn là một chủng sinh. Vị giáo hoàng khiêm tốn này thường bắt chước lời của ông Giuse ở Ai Cập chào hỏi các thành viên của Dòng Ba Phanxicô: "Tôi là Giuse, người anh em của quý vị."
Khi cải táng Ngài từ hầm mộ Giáo Hoàng trong dịp phong Chân phước, người ta đã khám phá ra xác của ĐGH Gioan XXIII đã chết từ năm 1963, tính đến ngày này đã được 43 năm, vẫn không hề bị phân hủy. Xác thánh của Ngài hiện được đặt dưới bàn thờ phụ trong Đền thừo Thánh Phêrô ở Rôma.






.gif)
.jpg)
.jpg)


