TUỔI GIÀ
HOÀNG HÔN CỦA CUỘC ĐỜI
Vào thời cổ đại, người ta quan niệm đời sống con người gồm ba độ tuổi:
• Tuổi hoa niên – hay tuổi trẻ - mà biểu tượng là sự trong trắng.
• Tuổi thành niên – hay tuổi trưởng thành – mà biểu tượng là sự chín chắn.
• Tuổi cao niên – hay tuổi già – mà biểu tượng là sự khôn ngoan
“ Nhân Sư ”[1] ngày nọ đặt cho Oedipe, một nhân vật của
huyền thoại Hy Lạp, câu đố sau đây:
“ Tạo vật nào buổi sáng đi bốn chân, chiều đi ba chân và
vào lúc suy yếu nhất thì đứng trên bốn chân ?”
Oedipe trả lời:
“ Đó là con người (l’homme), mà vào lúc bình minh của đời
mình thì di chuyển bằng bốn chân, đến giữa trưa của đời
mình thì đi với hai chân, và vào buổi hoàng hôn của đời mình
thì phải nhờ đến chiếc gậy, và như thế là đi với ba chân.”
I. TUỔI GIÀ
“Đi vào hoàng hôn của cuộc đời
như đi vào vùng ánh sáng đă điều hòa,
ít chói chang hơn, mắt không bị loá
bởi những màu sắc rực rỡ của bao ham muốn.
Người ta nhìn mọi vật đúng với thực chất của nó”
(André Maurois)
1. Già là gì?
Già là một hiện tượng sinh lý tự nhiên, một giai đoạn tất yếu, đương nhiên của đời sống con người. Già biểu hiện qua sự suy yếu các chức năng thể lý, qua những đổi thay về dáng vẻ và một tiến trình tuần tự dẫn tới tình trạng lão suy và bất lực.
Tuổi già là độ tuổi cuối cùng của con người, kế tiếp tuổi thành niên. Theo cách nói uyển ngữ, tuổi già còn được gọi là “độ tuổi thứ ba” (đôi khi người ta còn gọi là “độ tuổi thứ tư”, để nêu rõ tính cách “lệ thuộc” của tuổi già trong giai đoạn cuối cùng của đời người ).
2. Khi nào thì người ta già?
Thật khó trả lời một cách chính xác. Trong cuốn “Savoir se soigner pour bien vieillir” (Biết tự chăm sóc để có một tuổi già khoẻ mạnh), một nhóm y sĩ Pháp viết: “Năm tháng không có nghĩa lý gì. Nó chỉ là yếu tố phụ. Có những người già lúc mới mới hai mươi tuổi vì không niềm tin, không hy vọng, và những người ngoài tám mươi còn trẻ vì đầy ắp những niềm tin và hy vọng, đầy những kế hoạch không chỉ cho năm sau, tháng sau, mà còn cho ngày mai, ngày mốt…Và họ khẳng định : “Tâm hồn không bao giờ già, nó trẻ vĩnh viễn.”
Douglas Mac Arthur cũng nói lên quan điểm của mình trong bài diễn văn giã từ các Sinh viên Học viện Quân sự ở West Point (New York, Hoa Kỳ) vào năm 1962 như sau:
“Người ta không trở thành già vì đã sống nhiều năm trong cuộc đời. Người ta trở thành già vì đã “đào ngũ” lý tưởng của mình. Năm tháng làm da nhăn nheo, từ bỏ lý tưởng của mình làm tâm hồn ta nhăn nhúm. Những mưu toan, ngờ vực, những lo sợ và thất vọng là những kẻ thù khiến chúng ta cứ cúi rạp mình xuống đất và trở thành tro bụi trước khi chết.
Bao lâu niềm tin của bạn còn sống động, bấy lâu bạn còn giữ được nét trẻ trung. Bạn sẽ trở thành già bao lâu bạn còn sống trong ngờ vực. Bạn sẽ mãi mãi trẻ trung bao lâu bạn còn giữ được niềm tin vào chính bạn. Còn mãi trẻ trung khi hy vọng còn loé sáng trong bạn. Bạn sẽ già đi với chính sự mệt mỏi của mình. Bạn sẽ mãi trẻ trung bao lâu bạn còn duy trì được sức cảm thụ trong tâm hồn bạn. Cảm thụ trước cái đẹp, cái tốt, cái vĩ đại. Cảm thụ trước những sứ điệp của thiên nhiên, của con người và của vô biên…”
Tuy nhiên, không phải là vô cớ mà André Malraux, trong tác phẩm : “La condition humaine” (Thân phận con người) đã đánh dấu tuổi già bằng năm, sáu chục tuổi : “Phải cần đến sáu mươi năm để làm nên một con người, sáu mươi năm hi sinh và ý chí, và rất nhiều điều khác nữa…Và khi con người ấy đã được hoàn thành, khi nơi người ấy không còn gì là vết tích cuả tuổi ấu thơ và của thời niên thiếu, khi người ấy đã thực sự là một “con người”, thì điều tốt còn laị (cho chính người ấy) là vĩnh viễn ra đi.”
André Maurois cũng đã viết:
“Sau năm sáu chục năm trời nếm trải những thành công và thất bại, hỏi ai còn có thể giữ được nguyên vẹn những điểm sung mãn của thời trẻ? Đi vào hoàng hôn của cuộc đời, như đi vào vùng ánh sáng đã điều hoà, ít chói chang hơn, mắt khỏi bị loá bởi những màu sắc rực rỡ của bao ham muốn. Người ta nhìn mọi vật đúng với thực chất của nó.”
Và Đức Giáo Hoàng GIOAN XXIII cũng đã ghi lại trong ngày lễ sinh nhật thứ 60 của ngài rằng “Tôi đã thực sự bước vào tuổi già”.
Năm 1980, Liên hiệp quốc coi tuổi 60 trở lên là tuổi già trong một quần thể dân số. Thực ra, về mặt xã hội, tuổi già được cảm nhận tuỳ mỗi nền văn hoá và thay đổi từ thế hệ này sang thế hệ khác. Người Trung Quốc ngày xưa, 30 tuổi đã coi là già. Ở Việt Nam, trước đây tuổi thọ bình quân là 32. Ngày nay, tuổi thọ ở người nam là 65 và người nữ là 68; những người sống trên 80 còn hoạt động năng nổ, sáng tạo không hiếm.
Tại Pháp, vào thế kỷ 17, người ta cho rằng người già là những người ở độ tuổi 40 đến 70 : các” lão già” cuả Molière chỉ xấp xỉ 40 tuổi !
Từ những năm 1900 đến năm 2000, tuổi thọ trung bình của nam cũng như nữ đã tăng từ 40 đến 76 tuổi, tức là tăng gấp đôi trong khoảng 100 năm. Những năm tháng được tăng lên trong thời gian một trăm năm đó, không phải là những năm sống sót, nhưng là những năm gắn liền với cuộc sống cần được xây dựng. Tuổi già trở thành một giai đoạn của cuộc sống trọn vẹn mà mỗi người phải chuẩn bị sẵn sàng để sống.
Taị các xã hội phương Tây hiện nay, những cách nói như “niên trưởng”, hay “người cao tuổi” được dùng thay cho các từ “ông già, cụ già”được dành cho những độ tuổi về cuối đời.
Tổ Chức Sức Khoẻ Thế Giới (WHO) tháng 10 năm 1998 cho biết hiện nay thế giới có 580 triệu người trên 60 tuổi và đến năm 2020 số này sẽ là một tỉ.
Mục tiêu của thế kỷ tới sẽ là cải thiện chất lượng cuộc sống cho người già mà sức khoẻ là yếu tố quan trọng hàng đầu để con người có được hạnh phúc. Không gì đẹp bằng một người già minh mẫn, hiền từ, khoẻ mạnh, ôn tồn bàn về thế sự một cách từng trải!
3. Một Tuổi Già qua nhiều giai đoạn.
* Giai đoạn 1: Tuổi chớm già (Senior)
Thời kỳ đầu tiên của tuổi già bắt đầu vào năm 60 tuổi. Tuổi 60 là tuổi được quy định cho việc hưu trí, tức là việc chấm dứt một hoạt động nghề nghiệp có lương bổng. Tuy nhiên những người nghỉ hưu, với tiền hưu hay tiền trợ cấp nhận được, có thể còn có nhiều hoạt động như trước, hoặc hơn trước, với một khác biệt duy nhất, là những hoạt động trong thời kỳ này không có tính cách bó buộc, mà chỉ cốt để giúp các hưu viên thư giãn, và những hoạt động, trong thời kỳ này cũng không quá dồn dập, để tránh cho hưu viên sự phiền phức phải di chuyển hàng ngày đến công sở như trước đây.
- Tại Việt Nam, theo các chuyên gia về ngành lão học, giai đoạn chớm già thực sự là ở tuổi từ 40 đến 50, một độ tuổi với rất nhiều thay đổi về tâm sinh lý, về quan hệ gia đình và không ít những vấn đề bệnh lý. Đồng thời tuổi chớm già cũng là tuổi của thành tựu, của cương vị và uy tín trong xã hội.
- Theo một số quan niệm phương Tây, tuổi chớm già là thời kỳ xứng đáng nhất của đời người: đầy đủ kinh nghiệm để làm được nhiều việc xứng đáng hơn những lúc còn trai trẻ, trong túi hành trang cuộc đời ẩn chứa nhiều tiềm lực vô giá, và hiệu quả của mọi việc làm được bảo đảm chín chắn hơn. Nhiều nhân vật lớn đã thành danh và đạt được sự nghiệp huy hoàng ở tuổi từ lục tuần trở đi.
* Giai đoạn 2: Độ tuổi thứ 3 (Le troisième âge)
Từ những năm tuổi 70 đến 85, người ta gọi là độ tuổi thứ 3 , và độ tuổi này được miêu tả như giai đoạn mang “tính hoạt động” của tuổi già. Nhiều sự kiện đã góp phần làm sáng tỏ tính chất hoạt động này.
- Một đàng, là những chính sách về tuổi già, bắt đầu từ những năm 60, đã được hình thành và đã mang lại nhiều phấn chấn cho toàn dân. Bản tường trình của Laroque, xuất bản tại Pháp năm 1962 thừa nhận một quan niệm mới về tuổi già, và cổ võ việc sáp nhập những người già vào xã hội.
Một số dịch vụ cùng với các trang bị đã được thiết kế để tạo nên sự thuận lợi cho công việc nội trợ của người già tại gia đình, như: nâng cấp các nơi ở, thiết lập những câu lạc bộ giải trí tại địa phương để tránh cho người già mặc cảm cô đơn và sự buồn chán, vì không biết phải làm gì với số thời gian nhàn rỗi hiện có của mình.
- Đàng khác, là sự thay đổi trong tương quan giữa các thế hệ trong gia đình: căn cứ ít hơn vào việc chuyển nhượng trực tiếp di sản, và làm cho sự tự quyền có giá trị hơn. Những bậc cao niên không còn muốn trở thành gánh nặng cho con cháu, họ ước ao có được nhiều “viện dưỡng lão” tiếp nhận người già hơn.
* Giai đoạn 3: Tuổi già lệ thuộc (La vieillesse dépendante)
Độ tuổi thứ 3 chỉ về thời gian hoạt động của tuổi già; còn độ tuổi thứ 4 (tuổi già lệ thuộc) được đánh dấu bởi sự suy thoái thể lực. Cách nói “lệ thuộc” được đề nghị sử dụng từ những năm 1970 do giới y- sĩ chuyên chăm sóc người già tại các nước phương tây. Cách nhìn về tuổi thượng thọ này chuyển tải một hình ảnh suy thoái của độ tuổi cuối cùng này, và tình trạng suy yếu ấy trở thành một trong những điểm chính yếu của tuổi già. Vào năm 1998, chính quyền Pháp đã thiết lập sự tài trợ đặc biệt cho những người già lệ thuộc. Những hoạt động chăm sóc người già được hình thành ở các cấp địa phương và do những chuyên gia trong ngành này thực hiện, phối hợp với các chuyên gia về cư trú, về vận chuyển trong nước. Từ những năm 1970, những tổ chức chăm sóc người già tại nhà đã dần dà phát triển và trở thành dịch vụ chuyên nghiệp.
II. TIẾN TRÌNH LÃO HOÁ CỦA CON NGƯỜI
1. Các triệu chứng
Thông thường người ta tìm thấy nơi một người cao tuổi những nếp nhăn, tóc bạc và rụng tóc (rụng hết hay rụng một phần). Những loại triệu chứng này có thể bắt đầu từ tuổi 40 đến 60. Sau 75 tuổi, những triệu chứng về suy giảm thể lực có khuynh hướng phát triển. Giữa hai độ tuổi ấy thường xuất hiện bệnh sưng khớp, đau khớp, phong thấp, khiến người già mất đi vẻ duyên dáng khi di chuyển, các động tác trở nên vụng về, và cuộc sống thường ngày kém phần dễ dãi.
Sự “lệ thuộc”- tức là việc mất đi tính tự lập nơi người già ở độ tuổi thứ tư- là thước đo chính của tình trạng già nua. Nhà xã hội học Serge Guérin, khi nói về “người niên trưởng bị suy yếu”(SeFra), là có ý nói đến sự suy yếu về cả ba phương diện: thể lực, trí tuệ(hay luân lý) và kinh tế.
Sự suy yếu về trí tuệ gồm có bệnh Alzheimer. Khi một người già bắt đầu bị bệnh Alzheimer, thì người ấy thường chỉ nhớ đến hiện tại, và chủ yếu chỉ lo cho sự an toàn cá nhân mình và cho sự sống còn của bản thân. Trước đây người ta hay nói một cách vụng về là người ấy “bị lú lẫn”. Phần đúng trong cách nói này, là hơn bao giờ hết người già cần được yêu thương và giúp đỡ thôi. Một khi con người không còn khả năng làm được một số công việc thường ngày trong cuộc sống, thì không có gì an ủi họ cho bằng chính sự hiện diện của những người thân, ngay cả khi con người ấy dường như không còn nhận ra những thân nhân gần gũi của mình.
2. Các triệu chứng lâm sàng
Các thí nghiệm của Mendouse cho biết : Lão hoá là một hiện tượng mà những ảnh hưởng về sinh lý, tâm lý và xã hội được liên kết rất chặt chẽ với nhau.
A. Phương diện tâm lý của việc lão hoá
Rất khó phân biệt những biến đổi tâm lý được trực tiếp cảm ứng bởi sự lão hoá với các biến đổi tiếp nối với hậu quả của sự lão hoá. Tuy nhiên, một số biến đổi được nhận thấy như có ảnh hưởng đến tầm cỡ nhận thức và cảm xúc trong khuôn khổ của việc lão hoá bình thường.
Về mặt cảm xúc, việc lão hoá có thể làm lộ ra những tình cảm khác nhau nơi người già, như: cảm thấy mình vô dụng và là gánh nặng cho người khác, cảm giác cô đơn và bị bỏ bê, cảm giác tự mình không còn làm chủ được thân xác mình. Hai khía cạnh nổi bật nơi người già vào thời kỳ này là sự suy giảm hoạt động và việc tập trung chú ý vào thế giới nội tâm của mình.
Về mặt sinh học, tiến trình lão hoá của con người bắt đầu ngay từ lúc mới sinh ra và kết thúc ngay khi chết. “Tổ chức sức khoẻ thế giới” định nghĩa tiến trình này như một sự tiến triển tuần tự và không thể chuyển hướng của những biến đổi về cơ cấu và các chức năng của cơ thể, do bởi sự tích luỹ của thời gian.
* Thuỷ tinh thể của mắt bắt đầu “già” từ năm …11 tuổi!
* Các hệ thống sinh lý: huyết quản, tim, não, thần kinh cảm giác… bắt đầu già đi từ tuổi 18 đến 20.
* Sự hô hấp: Sự vận động buồng ngực suy giảm rất nhiều theo tuổi; người ta nhận thấy phổi mất “đàn hồi” (sự co giãn) và sự giảm lực của các cơ bắp thở. Khi ngưng thở, chức năng hít thở bị ảnh hưởng do bởi thể tích của không khí còn lại, và người ta nhận thấy sức sống bị giảm sút. Lượng máu động mạch phổi giảm bớt và áp suất động mạch phổi tăng dần theo tuổi tác.
* Sự tuần hoàn: sự cao huyết áp động mạch tăng dần theo tuổi, và bệnh “động mạch cố kết”[2] xuất hiện . Thường bệnh tiểu đường phát sinh và những mạch máu nhỏ dần dần bị trít lại.
* Chưc năng di động: Sự lão hoá xương do suy giảm việc cấu tạo xương, có thể dẫn đến bệnh loãng xương và mềm xương. Lão hoá khớp gây ra bệnh sưng khớp; sự lão hoá cơ bắp làm suy giảm lực của cơ bắp.
* Khả năng tri giác: sự giảm thiểu các khả năng cảm xúc gây nên việc đi đứng không vững, và bị lãng tai, mờ mắt. (ngày nay các bệnh này có thể chữa được bằng phẫu thuật ).
* Sức mạnh cơ thể : lực tối đa của “aérobie” bị suy giảm: Cơ thể của người già không còn sức dẻo dai nữa.
Các phần xương sụn (mũi, tai) tiếp tục phát triển suốt đời, tuy rất khó nhận thấy. Điều này tạo nên một dáng đặc biệt cho nét mặt người già, cho dù người già ấy đã từng có một gương mặt rất xinh đẹp lúc còn trẻ.
Nói chung, tiến trình lão hoá, sau giai đoạn trưởng thành , dẫn đến sự suy yếu dần dà các khả năng dự trữ trong tiến trình hoạt động của cơ thể, kéo theo những khó khăn về sự thích nghi sinh lý. Việc xuống dốc này được kèm theo và hiện rõ nét hơn do sự giảm sút các hoạt động của cơ thể thường xảy ra khi tuổi đời mỗi ngày một cao.
Những nét dặc trưng trên đây của tuổi già nêu rõ tính cách mong manh tro bụi của thân xác.
Simone de Beauvoir, trong tác phẩm “La viellesse” (Tuổi già), đã trích dẫn đoạn văn sau đây, viết từ 4500 năm trước của Ptah-hotep, một nhà hiền triết đồng thời là một thi nhân người Ai Cập:
“Não lòng thay giai đoạn cuối đời của một người già! Sức khỏe mỗi ngày mỗi xuống, đôi mắt mỗi ngày một không thấy rõ, đôi tai đã điếc hẳn rồi, sức lực xuống thấp, quả tim không ngơi nghỉ, đôi môi trở thành lặng lẽ, không nói được nên lời. Những khả năng trí tuệ giảm sút, hôm nay không còn nhớ được những gì đã xảy ra hôm qua. Tất cả những khớp xương gây đau nhức, những công việc mà ngày nào họ đã làm với bao vui thích thì nay phải khó nhọc lắm mới hoàn tất được, mọi sở thích giờ đây cũng tan biến mất rồi. Tuoi già quả thật là một tai ương tệ hại nhất mà con người phải gánh chịu ! Mũi thì bị trít lại, đâu còn khả năng ngửi được mùi thơm.Tuoi già, tuổi thượng thọ quả đã đóng lại mọi phạm vi hoạt động của con người: đây là thời gian của luyến tiếc, của hoài niệm…”.
III. TRO BỤI TUYỆT VỜI !
Đã đến lúc chúng ta cần xét đến một gương mặt khác của tuồi già, gương mặt của giá trị tích cực. Chúng ta có thể từ cam chịu bước qua thái độ chấp nhận tích cực tính chất hữu hạn đã cấu tạo chúng ta nên những hữu thể đặc thù, một tính cách hữu hạn mà tuổi già là biểu hiện rõ nét nhất, không ai có thể chối bỏ. Chúng ta là những hữu thể thuộc thời gian, tất phải mang dấu ấn của thời gian. Chúng ta không phải là thiên thần, chúng ta không ở trong vĩnh cửu. Chúng ta hiện hữu trong thời gian. Mang tính thời gian, điều đó có nghĩa là chúng ta được thụ hưởng một thời hiện tại đang tiếp diễn dưới hình thức của một sự biến đổi liên tục. Một hiện tại sẽ được chôn vùi trong quá khứ và luôn gặm nhấm một tương lai.
Hãy chấp nhận tính chất hữu hạn đó, cái điều kiện hiện sinh đó đã cấu tạo chúng ta nên những hữu thể của hiện tại, một hiện tại chuyển động, một hiện tại không mang tính vĩnh cửu. Hãy chấp nhận giới hạn đó để có thể xa lìa tiếc nuối đưa đến sự hao mòn thân xác do tuổi đời chồng chất. Biết đón nhận hiện tại đó như một quà tặng liên lỉ được trao ban.
Để đạt tới tính cách sẵn sàng cần thiết cho tuổi già, cần phải rèn luyện sự sáng suốt, luôn nhắc nhủ với mình rằng: Người khôn ngoan thì chín chắn và biết mình sẽ phải già nua, như văn hào Victor Hugo đã nhận định :
“ Người ta nhìn thấy ánh lửa trong đôi mắt người trẻ Nhưng trong đôi mắt người già, người ta nhìn thấy ánh sáng”.
( Booz endormi )
* “Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan”. (Tv 89(90), 12)
Một trong những đặc sủng của tuổi già, theo Thánh Kinh, là Sự Khôn Ngoan. Nhưng, Khôn Ngoan không phải là một đặc quyền đương nhiên của tuổi tác mà là một quà tặng của Thiên Chúa mà người già phải đón nhận như một đích điểm được ân ban, để đạt tới sự khôn ngoan tâm trí, giúp họ biết đếm tháng ngày mình sống , nghĩa là biết sống với ý thức trách nhiệm mà sự Quan phòng của Thiên Chúa đã ban cho mỗi người. Điều chính yếu của Đức Khôn Ngoan là khám phá ra ý nghĩa sâu xa nhất của đời sống con người và định mệnh siêu việt của con người trong Thiên Chúa. Và nếu điều đó đã là quan trọng đối với người trẻ thì sẽ còn quan trọng gấp mấy đối với người già, vốn được mời gọi quy hướng đời mình về điều cần thiết duy nhất ấy (Lc10,42).
* “Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa, Xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ”. (Tv71,1)
Thánh vịnh này là một trong rất nhiều lời cầu nguyện của các vị cao niên mà chúng ta tìm thấy được trong Kinh Thánh, diễn tả những tâm tình tôn giáo của tâm hồn trước thiên nhan Chúa.
Cầu Nguyện là con đường vương giả đặc biệt của người già. Cầu nguyện là một nghĩa vụ, một nhiệm vụ mà những bậc cao niên có thể thực hiện vì lợi ích của Giáo Hội và thế giới. Ngay cả những người cao tuổi nhất, đau yếu nhất hay tất cả những ai buộc phải nằm bất động trên giường cũng có thể cầu nguyện được. Cầu nguyện là sức mạnh của người già. Cầu nguyện là chính đời sống của họ. Qua cầu nguyện, người già tham gia vào những nỗi khổ đau và những niềm hoan lạc của người khác, cầu nguyện giúp cho các bậc lão thành thoát ra khỏi tình trạng cô đơn, ra khỏi sự bất lực tất yếu của mình. Một vị cao niên, nam hay nữ, khi gặp phải cảnh ngộ yếu đau, bị hạn chế đến mức tận cùng, có thể trở thành một vị đan sĩ, một vị ẩn tu mà lời cầu nguyện liên lỉ và nếp sống hoàn toàn thuần phục ý Chúa có thể cứu vãn muôn vàn khổ đau trong thế giới loài người.
( Còn tiếp )
Đà Nẵng, ngày 27 tháng 02 năm 2011.
Nữ tu Benedicte Diệu Khánh SPC
|