(Tuổi già, hoàng hôn của cuộc đời – (tiếp theo và hết.)
IV. GIÁO HỘI NGHĨ GÌ VỀ TUỔI GIÀ CỦA CON NGƯỜI?
Nữ tu Bénédicte Diệu Khánh, SPC
Nhân ngày “Đại Hội Quốc tế bàn về tuổi già của con người” được tổ chức tại Vienne ngày 22 tháng 7 năm 1982, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã gởi đến các tham dự viên Đại Hội bức thông điệp sau đây, nói lên lập trường của Giáo Hội về “Tuổi già của con người” :
Trong nhiều trường hợp, Giáo Hội đã quan tâm và hy vọng đón chào sáng kiến của Liên Hiệp Quốc trong việc xúc tiến một Hội Nghị Quốc Tế bàn về vấn đề tuổi già của con ngươì và những hậu quả của nó đối với từng cá nhân và với toàn thể xã hội…
Sự nghiên cứu cẩn thận những công việc dự bị cho Hội Nghị Quốc Tế và kế hoạch hoạt động đang được trình lên moi quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc để xem xét đã làm nổi bật nhiều điểm mà Giáo Hội đặc biệt ủng hộ. Tôi xin phép được kể ra đây:
- Sự lưu tâm đến người già, xét về tuổi già của họ, và phẩm chất cuộc sống hiện tại của họ.
- Sự tôn trọng quyền lợi của người già vốn là những thành viên năng động trong một xã hội mà họ đã từng góp công xây dựng.
- Sự kiên định để xúc tiến một tổ chức xã hội, trong đó mỗi thế hệ có thể góp phần của mình vào sự liên hệ với các thế hệ khác…
Giáo Hội muốn góp phần vào những suy nghĩ, kinh nghiệm và sự tin tưởng của mình vào con người với Đại Hội [1]… Giáo Hôi muốn đề nghị với quý tham dự viên của Đại Hội cách nhìn theo nhân tính và theo đức tin Kitô giáo về tuổi già và sự xác tín của mình về việc xem gia đình và những tổ chức theo mô hình gia đình như là những nơi tốt nhất cho sự nẩy nở của những bậc lão thành, và yếu tố thúc đẩy thế hệ trẻ quan tâm đến việc giúp đỡ những người già cả.
Tôi cảm kích nhớ lại lần tôi gặp gỡ những vị cao niên vào tháng 11 năm 1980 tại Vương cung thánh đường Munich. Lúc đó, tôi đã nhấn mạnh rằng sự lão hoá của con người là một giai đoạn tự nhiên và là lúc đăng quang của cuộc sống con người . Dĩ nhiên, cách nhìn này hàm ý rằng phải xem tuổi già như là một yếu tố mang một giá trị đặc biệt trong toàn thể đời sống con người, và nó đòi hỏi một quan niệm chính xác về con người gồm có cả xác lẫn hồn. Chính trong cách nhìn này mà Thánh Kinh thường nói đến tuổi già và những người già với sự tôn kính và thán phục. Chẳng hạn sách Huấn ca, sau khi ca ngợi sự khôn ngoan của người già, đã có một bài tán tụng dài về những bậc tổ tiên. Những vị này tuy thân xác đã được chôn vùi trong an bình, nhưng tên tuổi của họ lại được lưu truyền cho các thế hệ sau. Và sách Tân Ước cũng đầy dẫy sự tôn trọng các bậc tiền nhân. Thánh Luca đã khắc hoạ cho chúng ta hình ảnh cụ già Simeon và cụ bà tiên tri Anna, đã đón Chúa Kitô ở đền thờ. Và vào thời kỳ những Cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên, chúng ta thấy các thánh Tông đồ đã chọn những vị trọng tuổi để chăm sóc những Cộng đoàn mới được thiết lập ấy. Giáo Hội tha thiết ước mong rằng kế hoạch hành động được khai phỏng theo quan điểm xem tuổi già không phải là một tiến trình khắc nghiệt của sự suy thoái sinh học hoặc là một thời kỳ tách rời khỏi những khoảng thời gian khác của cuộc sống, nhưng là một giai đoạn đương nhiên của sự phát triển con người, mà tuổi già là điểm kết thúc.
Trên thực tế, sự sống là một quà tặng mà Thiên Chúa ban cho con người, đã được tạo dựng theo hình ảnh của Ngài và bởi Tình yêu của Ngài. Sự hiểu biết về phẩm chất cao quý của con người dẫn tới sự trân trọng mọi giai đoạn trong đời sống của họ. Đó là vấn đề hợp lý và đúng đắn. Thật vậy, không thể đánh giá đúng sự thật cuộc sống của một cụ già mà không đánh giá đúng sự thật sự sống của một em bé ngay từ khi mới là bào thai trong lòng mẹ. Không một ai biết được hậu quả sẽ ra sao, nếu sự sống không còn được tôn trọng như là một tài sản bất khả nhượng và tôn nghiêm. Như vậy, cần phải xác nhận mạnh mẽ cùng với Giáo Hội về Giáo lý Đức Tin, trong đoạn tuyên bố về vấn đề “an tử” (chết êm nhẹ) ngày 5-5-1980 rằng: Không ai và cũng không có cái gì có thể được phép huỷ bỏ sự sống của một con người, dù chỉ là bào thai, trẻ em hay người lớn, người già cả, những kẻ mắc bệnh bất trị hoặc đang hấp hối…Đó là một sự vi phạm luật Chúa , sự xúc phạm đến phẩm giá con người, là trọng tội đối với sự sống, là sự xâm phạm đến nhân loại…
Giờ đây, tôi muốn cùng quý vị nhìn đến những đặc trưng của tuổi già.
…Các trạng huống căn bản của những độ tuổi thứ 3 và thứ 4 dĩ nhiên được tạo nên bởi sự suy yếu về thể lực, sự giảm bớt tính năng động của những khả năng trí tuệ, sự mất dần những hoạt động quen thuộc, những bệnh tật và vô năng, và niềm lo âu về những cuộc phân ly tử biệt của những người thân trong tương lai. Những thực tại đáng buồn này có thể được biến đổi nhờ vào những xác tín triết lý và nhất là những niềm tin vững chãi của những ai được may mắn có đức tin. Đối với những người có niềm tin, chặng cuối cùng của cuộc sống trần gian có thể được sống như là sự đồng hành huyền nhiệm của Đức Kitô, Đấng Cứu Độ, trên con đường đau thương thập giá trước khi đến buổi bình minh rạng rỡ của cuộc Phục Sinh.
Chúng ta cũng thấy được các mặt lợi ích của tuổi già. Đó là lúc mà con người cao niên có thể gặt hái kinh nghiệm của suốt cuộc đời của họ, chọn lọc ra những cái phụ thuộc và chính yếu, đạt đến mức độ của sự minh triết quảng bác và sự thanh thản sâu xa…
Điều này đòi hỏi chính những vị lớn tuổi phải thật lòng chấp nhận tuổi của họ và trân trọng những nguồn lợi khả dĩ của họ. Điều cần thiết khác liên quan đến xã hội ngày nay. Xã hội này phải nhận thức được những giá trị luân lý, tình cảm, tôn giáo đang có trong tâm trí và tâm hồn của những người lớn tuổi, và phải ra sức làm cho họ hội nhập với nền văn hoá của chúng ta. Nền văn hoá này đang có một khoảng cách biệt đáng ngại giữa mức độ kỹ thuật và mức độ đạo đức của nó. Thực vậy, những người trọng tuổi sống rất khó khăn trong một thế giới dã trở nên vô tri về tầm cỡ dạo đức của mình. Do đó, những người già tự giảm giá trị của mình, khi họ thấy rằng sự sinh lợi của những công dân mới là có giá trị bậc nhất, còn các tư lực khác đều bị lãng quên hoặc khinh miệt. Một bầu khí như vậy sẽ ngăn trở sự phát triển phong phú của tuổi già, và nhất định làm phát sinh những tình cảm đau đớn về sự vô dụng của mình để cuối cùng đi đến tuyệt vọng. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng chính toàn thể xã hội đã tự đánh mất những yếu tố làm phong phú và điều hoà, khi nó liều lĩnh cho rằng chỉ những thành phần trẻ và trưởng thành, có đầy đủ sức khoẻ mới là có giá trị, còn những thành phần khác đều bị xếp vào hạng người không sinh lợi cho xã hội, trong khi rất nhiều những kinh nghiệm được thực hiện cách chính xác, lại xác quyết điều ngược lại.
II
Trong huấn dụ tông toà “Familiaris Consortio” của tôi, tôi đã nhắc lại rằng gia đình con người có nguồn gốc thánh thiện và bản chất cùng nghiệp vụ của nó đã được ấn định bởi tình yêu: “Được thiết lập như là một cộng đoàn của sự sống và tình yêu, gia đình nhận lấy trách nhiệm giữ gìn, biểu lộ và truyền đạt tình yêu…Mọi thành viên gia đình, mỗi một người, tuỳ tài năng riêng của mình, đều có ân sủng và trách nhiệm để xây dựng, ngày qua ngày, sự hoà hợp giữa các thành viên, và làm cho gia đình trở thành một trường học đầy nhân ái và phong phú.”
Điều này cho phép ức đoán những khả năng mà gia đình có thể mang lại cho người lớn tuổi: vừa là sự nâng đỡ mà họ có quyền chờ đợi từ gia đình, vừa là sự đóng góp có thể của họ vào cuộc sống và sứ mạng của gia đình. Thật ra, những điều kiện hội nhập của những bậc lớn tuổi vào tổ ấm của con cái họ hay cả những thân nhân khác, không phải là luôn luôn có được, và ngay cả đôi khi sự hội nhập ấy cũng tỏ ra bất khả thi. Lúc đó cần phải dự liệu một giải pháp khác. Đó là trách nhiệm của con cái hoặc những thành viên khác trong gia đình phải duy trì những liên lạc thường xuyên và nồng ấm với cụ ông hoặc cụ bà đã phải gửi vào một nhà dưỡng lão. Ngoài điều này ra, ta chắc chắn thấy được rằng: Khi những người lớn tuổi ở với những người thân yêu của họ, thì họ có thể đem lợi ích cho con cháu họ nhờ lòng âu yếm, sự khôn ngoan, sự thông cảm và khoan dung, những lời khuyên răn và lời khuyến khích, đức tin và lời cầu nguyện, thường thường là những đặc sủng của tuổi già. Bằng cách cư xử như vậy, những người già cả còn góp phần vào việc tái lập danh giá, nhờ tấm gương tốt của họ, của những cách cư xử mà ngày nay bị xem thường như: sự biết lắng nghe kẻ khác, sự quên mình, sự thanh thản, cách sống nội tâm, niềm vui kín đáo và toả sáng…Cần phải nhấn mạnh rằng sự hiện diện thường xuyên hay từng lúc của những người lớn tuổi cùng với những người thân của họ, là một yếu tố quý giá của một sự liên kết và hiểu nhau giữa các thế hệ khác nhau và bổ túc cho nhau. Như vậy, sự thu hẹp gia đình như tôi vừa gợi ý có thể là nguồn gốc của sự quân bình và nguyên khí, của nhân đạo và linh đạo cho tế bào nền móng này của xã hội; nó mang một cái tên có tính gợi nhớ nhất, trong mọi ngôn ngữ của thế giới: đó là “gia đình”.
III
Với sự phát triển dân số hiện nay, xã hội thấy mở ra trước mắt một môi trường hoạt động để phục vụ con người, hầu để bảo đảm cho người già một chỗ xứng đáng trong cộng đồng dân chúng và tán trợ việc họ góp phần vào việc phát triển cộng đồng.
Những thế hệ già, trong một số hệ thống tư pháp và xã hội, thấy mình càng ngày càng bị rời xa phạm vi sản xuất kinh tế, đôi khi băn khoăn tự hỏi về chỗ đứng và chức năng mà loại xã hội mới này dành cho họ.Thời gian hưu trí quá sớm này mà xã hội áp đặt cho họ, họ sẽ dùng nó vào việc gì? Xã hội ngày nay, trong tiến trình và hướng đi của nó, có còn mong đợi gì ở những thành viên đã hưu trí của nó không?
Hình như khi đối diện với vấn đề mới mẻ và rộng lớn này, toàn thể xã hội và dĩ nhiên là những người có trách nhiệm của nó, phải nghiêm túc suy nghĩ về các giải pháp có thể đáp ứng những nguyện vọng của những vị cao tuổi. Những giải pháp này không thể có cùng một kiểu duy nhất. Nếu ta xem như là một việc bình thường, khi xã hội giúp giữ lại các người già trong gia đình và khung cảnh sống của họ, nếu giải pháp này tỏ ra khả thi và có thể mong được, thì còn có những phương tiện khác khì có thể cung cấp cho độ tuổi thứ ba và thứ tư. Ở phạm vi này, một xã hội thật sự ý thức được về những bổn phận mình phải có đối với các thế hệ đã góp công làm nên lịch sử của đất nước, thì phải thiết lập những chế độ thích hợp.Và để được kế tục với những gì những bậc phụ lão đã biết và đã sống, thì chắc hẳn những chế độ nói trên phải khuôn theo mô hình gia đình, nghĩa là chúng phải cố gắng đem lại cho những bậc tiền bối sự nồng ấm của tình người, trong suốt cuộc đời và đặc biệt là vào lúc tuổi già, nhưng cũng phải để cho họ có một sự tự do ý chí nào đó, thích hợp với các nhu cầu của cuộc sống cộng đoàn, một số sinh hoạt thích ứng với khả năng thể lý và nghề nghiệp của họ, và cuối cùng là những sự chăm sóc đòi hỏi bởi tuổi tác càng ngày càng cao của họ. Dĩ nhiên đã có những thực hiện theo loại này, nhưng chắc chắn phải phát triển chúng thêm nữa. Về điều này, xin quý vị cho phép tôi được nhắc lại là Giáo Hội đã có từ lâu loại hoạt động bác ái này được thể hiện xuyên qua vô số viện dưỡng lão dành cho người già . Ước gì những loại viện này được tán thưởng và khuyến khích. Một xã hội làm cho mình được danh dự, đặc biệt khi biết tập trung tối đa những con đường phục vụ con người như vậy với lòng tôn trọng những người lớn tuổi và những tổ chức tiếp đón họ.
Tôi nhận thấy hữu ích khi vắn tắt nhắc lại một vài cách phục vụ mới mà xã hội có thể giúp cho những người hưu trí và các bô lão có được một chỗ đứng và một vai trò trong cộng đồng nhân loại. Tôi nhớ đến sự đào tạo thường xuyên và hữu ích, tại nhiều nước đối với các cụ ông cụ bà, để cho họ không những thêm phong phú về chính mình mà còn có khả năng thích nghi và tham gia vào cuộc sống thường nhật của xã hội. Quả nhiên, những bậc tiền bối có dồi dào những hiểu biết và kinh nghiệm. Những ưu điểm này được duy trì và thậm chí được bổ túc bởi tiến trình thích hợp của việc đào tạo thường xuyên, có thể đem đầu tư vào những khu vực từ giáo dục đến những phục vụ khiêm tốn về cứu tế xã hội. Theo kế hoạch này, những sáng kiến mới mẻ có thể được nghiên cứu với sự góp ý của chính các bậc lão thành và những hiệp hội đại diện cho họ. Tôi cũng nghĩ rằng xã hội cần lưu tâm đến những tài năng cá nhân của các vị cao niên và những tình huống rất khác biệt nhau trên các lục địa, để tìm ra một khả năng nào đó có thể làm thay đổi các cách sinh hoạt. Ở giữa sự đơn điệu buồn chán và lòng hiếu kỳ liên tục, có thể tìm được cách nối kết hợp lý giữa công việc theo nghề nghiệp và công việc bình thường như: việc đọc sách hoặc thậm chí việc học hành, những lúc giải trí, những cuộc gặp gỡ tự do hay có tổ chức với những người khác và ở những môi trường khác, những thời gian nguyện ngắm trong thanh thản và sốt mến. Còn có một cách phục vụ khác mà xã hội có thể làm cho các thế hệ đi trước, đó là khuyến khích sự thành lập, khi có thể, những hiệp hội mới của các vị lão thành và hỗ trợ cho những hiệp hội đã có rồi. Những hiệp hội này đã sinh hoa kết quả, bằng cách đưa được những người ở giai đoạn về hưu và già cả ra khỏi sự cô đơn và ấn tượng đau buồn rằng từ nay họ là những người vô dụng. Những hiệp hội loại này phải được công nhận bởi những người có trách nhiệm về xã hội và xem chúng như là lời nói chính thức của những bậc tiền bối và của nhữg người thiệt thòi nhất trong số họ. Cuối cùng, tôi nghĩ đến vai trò mà những phương tiện truyền thông xã hội, đặc biệt là truyền thanh truyền hình, có thể và cần phải đảm nhiệm việc phổ biến một hình ảnh đúng đắn và mới mẻ hơn về tuổi già và sự đóng góp khả dĩ của họ vào sức sống và sự thăng bằng xã hội. Điều ấy đòi hỏi những người có trách nhiệm về truyền thanh truyền hình và báo chí phải được thuyết phục hay ít ra phải tôn trọng quan điểm cho rằng sự sống con người không phải được thiết lập chỉ trên sự hữu dụng về kinh tế và hoàn toàn vật chất, nhưng là phải căn cứ trên ý nghĩa toàn diện của sự sống, tức là hàm chứa mọi sự phát triển và một sự nảy nở đáng thán phục mãi cho đến cuối hành trình ở trần thế của nó, đặc biệt là khi có môi trường thuận lợi.
Thưa ông Chủ Tịch, kết thúc những suy tư và gợi ý này, tôi rất ao ước những quyết nghị của Hội nghị quốc tế ở Vienne về vấn đề tuổi già, dần dần có được những kết quả phong phú và bền vững. Trong phạm vi này cũng như ở nhiều phạm vi khác đã được nghiên cứu và phát huy bởi Hội Đồng Liên Hiệp Quốc về tuổi thơ ấu, về thế giới những người tàn tật…rốt cuộc là ưu tư cho hiện tại và tương lai của nền văn minh nhân loại. Bất cứ nền văn hoá nào, ở bất cứ lục địa hay đất nước nào, và ở bất cứ thời kỳ nào của lịch sử, cũng chỉ có được giá trị và sự toả sáng của mình, khi luôn luôn dành ưu tiên cho sự phát triển toàn vẹn của con người, từ bước đầu tiên cho đến chặng cuối cùng của cuộc hành trình ở trần thế của họ, chống lại sự cám dỗ của một xã hội bị quay cuồng về sự sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm. Ước gì những người có trách nhiệm về thế giới hiện tại biết cùng nhau hành động để đạt được một sự thăng tiến đích thực của con người và lôi cuốn nhân dân của họ theo gương ấy! Điều này không chỉ là đối tượng của những ước nguyện nóng bỏng của tôi mà còn là ý hướng của lời cầu nguyện liên lỉ của tôi với Thiên Chúa, Đấng sáng tạo mọi điều tốt lành.
Vatiacan, ngày 22 tháng 7 năm 1982
Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.
(Nữ tu Benedicte Diệu Khánh chuyển ngữ)
|